PHẠM DOANH – THI SĨ CỦA HAI VÙNG ĐẤT 

Thứ năm - 29/01/2026 17:01
Nhân dịp tưởng niệm 100 ngày nhà thơ Phạm Doanh về miền mây trắng, nhóm những người bạn thân thiết của nhà thơ Phạm Doanh, phối hợp với gia đình nhà thơ tổ chức một chương trình thơ mi ni để thêm một lần chúng ta được nhớ thương hơn, quý mến hơn, trân trọng hơn đối với nhà thơ Phạm Doanh và di sản thơ của anh; đồng thời để thêm một lần chúng ta cùng ghi nhận, khẳng định với nhau những đóng góp của thơ Phạm Doanh cho nền thi ca của nước nhà, đặc biệt là thơ ca của tỉnh nhà Đắk Lắk chúng ta.

Nhà thơ Đặng Bá Tiến 

>> Nghe tác giả đọc văn bản:  
     
     Nhà thơ Phạm Doanh sinh năm 1942, tên thật là Phạm Đình Doanh, quê ở Thủy Nguyên, Hải Phòng. Anh là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, nguyên là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Đắk Lắk, Tổng Biên tập Tập chí Chư Yang Sin thuộc Hội Văn học nghệ thuật Đắk Lắk gần 20 năm. Anh là một trong những cây bút thơ nổi bật của phong trào văn học công nhân, công nghiệp trong thập niên 60, 70 của thế kỷ trước cùng với các tên tuổi nổi bật như Tô Ngọc Hiến, Đào Cảng, Đào Ngọc Vĩnh, Yên Đức, Nguyễn Tùng Linh, Thanh Tùng và nhiều người khác, làm nên một phong trào thơ công nhân, công nghiệp lừng danh ở miền Bắc trước ngày thống nhất đất nước (năm 1975). Từ năm 1974, lúc mới 32 tuổi Phạm Doanh đã cho ra mắt tập thơ đầu tay có tựa đề Xứ đầu tiên. Năm 1978 anh đã được Nhà xuất bản Thanh Niên chọn 14 bài thơ để đưa vào tuyển tập thơ “Đất rộng trời xanh” của 5 tác giả, gồm: Phạm Doanh, Đỗ Thịnh, Vương Tâm, Như Mạo, Nguyễn Tùng Linh. Chúng ta đều biết rằng: ở thời kỳ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, việc in ấn còn hết sức khó khăn, do giấy phép xuất bản không được cấp cho cá nhân như bây giờ, chỉ các nhà xuất bản mới có giấy phép in ấn tác phẩm, công nghệ in còn lạc hậu, giấy in còn rất thiếu thốn, nhiều nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ như Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm... cũng phải vài ba năm mới được xuất bản một tập thơ, thì việc nhà thơ trẻ Phạm Doanh lúc bấy giờ đã được in tập thơ riêng và được chọn in trong tuyển tập thơ in chung của 5 tác giả là một vinh dự lớn, một sự hãnh diện cao. Chứng tỏ thơ của Phạm Doanh thời bấy giờ đã được dư luận xã hội, người yêu thơ và đặc biệt là các nhà xuất bản đánh giá cao và quan tâm.
      Là một người yêu thơ từ thuở còn là sinh viên, những năm 1971 đến 1975 lúc còn học ở Hà Nội tôi đã được đọc thơ của Phạm Doanh và bị cuốn hút bởi đời sống công nghiệp đầy ắp trong thơ anh. Các bài thơ của anh viết về đề tài công nghiệp thời ấy đã rất được dư luận quan tâm. Ví dụ: Công nghiệp về, Xứ đầu tiên, Dòng kênh nóng, Đường vào nhà máy, Tình ca xây dựng, Khói nhà máy của tôi, Chìm trong hình khối, Từ trong lò giếng... Có thể nói thơ Phạm Doanh ở thời kỳ này đầy cảm xúc, thể hiện tình cảm, tình yêu say đắm với nền công nghiệp non trẻ của nước ta lúc bây giờ. Anh ca ngợi cuộc sống của những người thợ mỏ, thợ xây, ca ngợi tình yêu và tinh thần lao động, cống hiến của của họ vì sự phát triển của vùng than đông bắc của Tổ quốc một cách say sưa, mê đắm. Có lẽ vì quá yêu nền công nghiệp non trẻ của Tổ quốc, quá yêu quý trân trọng công sức của những người lao động mà anh cảm nhận được vẻ đẹp của “khói nhà máy” và thi vị hóa cả “khói nhà máy”, nên trong bài thơ “Khói nhà máy của tôi” anh viết: 
Thở ấm một vùng trời
hơi thở của những người lao động
khói nhà máy của tôi

Buổi sớm lên cao vời
vút nở bông dành trắng
ban mai xòa gió nắng
khói rập rình như mặt cơm sôi
thấm trong mưa bụi khói tan rơi
lưỡi chạm mặn ngỡ mồ hôi chảy...
      Dù bây giờ khói nhà máy người ta cho là nguyên nhân gây ra ô nhiễm và bị phê phán, nhưng xét dưới góc độ cảm nhận thơ, tôi rất nể trọng, khâm phục khả năng quan sát, phát hiện, so sánh tinh tế của anh: “Buổi sớm lên cao vời/ vút nở bông dành trắng/ ban mai xòa gió nắng/ khói rập rình như mặt cơm sôi”...
     Trước niềm vui của người thợ xây dựng khi công trình vừa hoàn thành, anh viết những dòng thơ như reo vui cùng người thợ, ngỡ như anh đang sống trọn vẹn cảm xúc cùng họ: 
Khi nước vôi cuối cùng đã khô
là lúc mặt tường mờ đi vết chổi
mờ đi dấu ấn của những bàn tay
cho công trình hiện ra
tự nhiên như con sông ngọn núi
những người thợ nhìn vào hình khối
vẫn nhận ra mình
vui sướng và bâng khuâng

Cánh cửa êm ru khép mở mấy lần
người thợ mộc lùa tay vào kẽ chớp
người thợ bê tông ôm choàng thân cột
người thơ xây áp má lên mặt vữa mịn màng
người thợ sơn muốn hát trong màu sắc dịu dàng
ánh sáng chan đầy mặt người thợ điện
nghe đường ống rì rào nước chuyển
người thợ nước ngỡ mình ngửa mặt dưới giương sen...
                                         
  (Chìm trong hình khối)
    Đây cũng thời kỳ Phạm Doanh có nhiều bài thơ hay viết theo thể lục bát. Đưa được cuộc sống lao động công nghiệp ngổn ngang, bề bộn với hàng trăm, hàng ngàn từ ngữ chẳng êm đềm một chút nào, như sắt, thép, gạch, đá, bê tông, lò giếng, lò chợ, chân vịt, trạm bơm, tuyếc bin, bãi thải... vào thơ lục bát, một thể thơ vốn ưa những từ ngữ dịu dàng, êm dịu, đó chính là sự tài hoa của Phạm Doanh. Trong bài Đường vào nhà máy, anh viết:
Vẫn là tiếng của tuyếc bin
đã thành nhịp đập trái tim - quen rồi
sáng nay sao cứ bồi hồi
như nghe lại tiếng xả hơi buổi đầu...
hoặc:
Ta nhìn những tấm pa nen
theo cần trục tháp bay lên mái lò
nhìn ra ngoài bãi thải tro
thấy hàng trăm tấn bom thù thải theo
nhìn lên những bức tường xiêu
lửa hàn chớp lóa, bay thêu nắng hồng...
      Phải chăng vì sự tài hoa này: đưa được chất công nghiệp gồ ghề, bề bộn như thế vào trong thơ lục bát mà Phạm Doanh đã được nhà thơ nổi tiếng Chế Lan Viên khen: “Đây đích thực là lục bát công nghiệp”.  
*
       Năm 1987, Phạm Doanh chuyển vào công tác và sinh sống ở Đắk Lắk. Thời kỳ đầu anh làm việc tại Hội Nông dân tỉnh. Bấy giờ Đắk Lắk chúng ta chưa có Hội Văn học nghệ thuật (VHNT), thế nên Phạm Doanh bằng tên tuổi, uy tín của mình đã thu hút được nhiều anh em cầm bút trẻ của Đắk Lắk tìm đến, giao lưu tâm sự về thơ. Căn phòng tập thể nho nhỏ của anh ở Hội Nông dân trở thành nơi cho nhiều anh em làm thơ trẻ bấy giờ (như Uông Ngọc Dậu, Văn Thảnh, Lê Vĩnh Tài, Đỗ Trọng Phụng, Lê Tiến Dị, Trịnh Kim Hiền, tôi và một số anh em khác) quần tụ vào các chiều thứ bảy, chủ nhật, lúc rượu, lúc bia, và bao giờ cũng có thơ mới sáng tác đọc bên chiếu rượu, rồi ngâm nga phẩm bình với nhau. Bấy giờ Phạm Doanh thực sự là một người anh góp phần nâng đỡ, dìu dắt, hướng dẫn, hỗ trợ rất nhiều cho một số anh em viết trẻ để họ ngày càng viết chắc tay hơn, trưởng thành hơn.
     Năm 1990 Đắk Lắk chúng ta chính thức có Hội VHNT, Phạm Doanh chuyển sang công tác ở Hội. Anh giữ cương vị Phó chủ tịch Hội và trực tiếp làm Tạp chí Văn nghệ Đắk Lắk, tiền thân của Tạp chí Chư Yang Sin sau này. Đây là Tạp chí mà anh có gần 20 năm làm Tổng Biên tập. Ở giai đoạn này, bằng cương vị công tác của mình anh đã cùng tập thể lãnh đạo Hội, đứng đầu là nhà thơ Hữu Chỉnh góp phần làm cho Hội ngày càng phát triển, hội viên ngày càng đông, đa dạng lĩnh vực sáng tạo hơn; đồng thời cũng góp phần làm cho Tạp chí Chư Yang Sin ngày càng phát triển, nội dung phong phú và hay hơn, hình thức đẹp và hấp dẫn hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này thông qua công việc biên tập bài vở cho Tạp chí anh đã có công lớn trong việc phát hiện và bồi dưỡng nhiều cây bút trẻ và một số người dù cao tuổi nhưng mới đến với nghiệp cầm bút ở thành phố Buôn Ma Thuột, các huyện Krông Pắk, Krông Búk (Buôn Hồ), Krông Năng Krông Ana... trở thành hội viên của Hội và có nhiều đóng góp cho Tạp chí. 
       Trong giai đoạn này Phạm Doanh không viết nhiều. Kể từ khi vào Đắk Lắk (năm 1987) cho đến khi mất anh chỉ cho ra mắt một tập thơ mỏng có tựa đề “Ấy là tôi”. Dù viết ít, nhưng thơ anh ở giai đoạn này nhiều chiêm nghiệm hơn, sâu sắc hơn, hấp dẫn bạn đọc hơn. Ví dụ bài Sám hối: 
Tôi tha hóa nửa đời rồi
Vâng, tôi niềm nở với người không quen
Tôi tâng bốc bọn thấp hèn
Tôi đã đặt những đồng tiền lên môi

Tôi tha hóa nửa đời rồi
Trái tim ngân vọng những lời vu vơ
Sự đời cảm tác như mơ
Có khi quay mặt làm ngơ sự đời

Tôi tha hóa nửa đời rồi
Nhưng tôi vẫn cứ theo tôi đến cùng
Hết xuống biển lại lên rừng
Khi mỏi mệt tôi đã từng mơ tôi...
     Có lẽ đây là một sự sám hối thay cho nhiều người đang sống trong cuộc đời hiện nay, khi họ đã tự dối mình, sống nịnh bợ, coi trọng đồng tiền, quay mặt làm ngơ trước bao hoàn cảnh, số phận đáng thương đang cần được giúp đỡ. 
     Bên cạnh đó, Phạm Doanh cũng có nhiều bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của mình với mảnh đất Đắk Lắk, nơi anh đã chọn làm quê hương thứ hai; và vì vậy anh nguyện cùng bạn bè, cùng người dân Đắk Lắk chia ngọt, sẻ bùi để xây dựng mảnh đất này ngày càng giàu đẹp. Trong bài thơ Thức tỉnh, anh viết: 
Tôi đã ở đây cùng với bạn bè
Để lao động, đấu tranh và ca hát
Đêm ngủ chung giường, ngày ăn chung bát
Chẳng sợ đói nghèo, chỉ sợ phải xa nhau.

Tôi đã ở đây như chẳng ở đâu
Vị sắn lùi lại ngọt bùi đến vậy
Da con gái lại nõn nà thế ấy
Như chẳng ở đâu có được những bài ca
Chỉ hát thầm cũng lay động sâu xa.
     Cũng vì yêu Đắk Lắk, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, còn lưu giữ máu xương của của bao thế hệ đã hy sinh cho vùng đất này trường tồn và phát triển, nên năm 1991 khi đến Krông Ana anh đã viết bài thơ Krông Ana ơi, đừng quên! với tất cả niềm xúc động chân thành: 
Có người mẹ từ miền quê xa lắm
Lặn lội vào Buôn Trấp kiếm mộ con
Người lính trẻ đã chết trong chiến trận
Đồng đội chôn anh dưới gốc bông gòn

Khu rừng ấy - thư bạn con đã kể
Cây bông gòn côi cút giữa bằng lăng
Mẹ tin chắc sẽ tìm ra con mẹ
Nhưng mẹ đã tìm... Tìm đã mười năm

Mẹ chỉ thấy bao đổi thay kỳ lạ
Những đồng hoang thành đồng ruộng mỡ màu
Thành những vườn cây bốn mùa trĩu quả
Những khu nhà ngói mới đỏ au

Tim mẹ buốt mỗi cánh rừng bị chặt
Cây bông gòn chẳng biết có còn không
Nhưng khi vườn cà phê mọc lên ngút ngát
Mẹ lại mơ thấy con mẹ vun trồng

Và Buôn Trấp đã trở thành quê mới
Nắm xương tàn mẹ cũng gửi lại đây
Krông Ana ơi, dù cuộc đời biến đổi
Đừng quên máu xương ủ dưới đất dày.
     Theo tôi, đấy đích thực là tình yêu máu thịt với đất và người Krông Ana, cũng chính là tình yêu của tác giả với mảnh đất Đắk Lắk, quê hương thứ hai của anh.      
      Trong số các bài thơ viết giai đoạn sau này, tức là sau khi Phạm Doanh vào Đắk Lắk, tôi rất thích bài thơ Hạ cảm, anh viết sau một lần đi thực tế sáng tác ở Bản Đôn: 
Ơ này ngọn gió hồi xuân
Cứ mơn man, cứ xoay vần thịt da
Thì đây cái gốc me già
Cũng xin nứt vỏ biếc ra nụ chồi

Ơ này nắng của trời ơi
Nôn nao quá tháng tư rồi phải không
Ve sầu đục, sáo diều trong
Cứ da diết để rụng bông bồ đề
Mã tiền vàng rực đam mê
Tiếng Tlang pút vọng về đâu đây
Sao nôn nao thế, ơ này!
      Theo tôi, đây là bài thơ thể hiện rõ nhất phẩm chất thi sĩ của Phạm Doanh. Cảm xúc của tác giả tuôn chảy rất tự nhiên, dào dạt, câu thơ lục bát như được trào ra từ cảm xúc hết sức nhuần nhuyễn. Điều tác giả “Hạ cảm”, tức cảm nhận về mùa hạ thật độc đáo và tinh tế, khi mùa hạ ở Bản Đôn vốn nóng nực hơn các vùng đất khác nhưng “gốc me già/... nứt vỏ biếc ra nụ chồi”, anh liền nhận ra cái điều kỳ diệu của thiên nhiên trời đất: “ngọn gió hồi xuân” “mơn man” da thịt ngay giữa mùa hạ. Và rồi anh thấy cái nắng hạ/ nắng tháng tư như dịu lại, thấy lòng dạ nôn nao, thấy mọi cảnh vật như đẹp hơn và cuộc đời mà chúng ta đang sống thật đẹp, thật đáng để chúng ta yêu quý trân trọng: “Ơ này nắng của trời ơi/ Nôn nao quá tháng tư rồi phải không/ Ve sầu đục, sáo diều trong/ Cứ da diết để rụng bông bồ đề/ Mã tiền vàng rực đam mê/ Tiếng Tlang pút vọng về đâu đây/ Sao nôn nao thế, ơ này!”.  Có lẽ đây là lúc cảm hứng sáng tạo, tâm hồn thơ của anh được thăng hoa nhất. 
     Như nhiều người đã biết: Trong sự nghiệp sáng tác của mình, tác phẩm của Phạm Doanh chỉ có 2 tập thơ in riêng là Xứ đầu tiên (1974) và Ấy là tôi (1997) và 3 tập thơ in chung: Đất rộng trời xanh (1978), Trước ô cửa nhà dài (1993), Lục bát phượng yêu (1994). Tuy số lượng tác phẩm của anh không nhiều, nhưng uy tín về thơ của anh là không hề ít, không hề nhỏ. Chính vì vậy anh đã từng được nhận Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long lần thứ 1 (năm 1983), Giải thưởng Văn học về đề tài Công nhân lần thứ 2 (giai đoạn 1972 - 1975), Giải thưởng của Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1997), Giải thưởng Văn học nghệ thuật Chư Yang Sin của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk lần thứ 1 (2005). Anh cũng được tặng nhiều Bằng khen và Huy chương của các Hội chuyên ngành trung ương và địa phương. 
*
       Trong buổi sinh hoạt thơ tưởng niệm nhà thơ Phạm Doanh nhân dịp 100 ngày mất của anh hôm nay, thay mặt cho nhóm bạn bè thân thiết thường ngồi uống cà phê mỗi tuần hai lần tại nhà anh Nguyễn Duy Xuân để tâm tình với nhau về thơ, về cuộc đời, tôi xin phác thảo sơ lược một số nét tiêu biểu về quá trình sáng tác thơ và tấm lòng quý mến của anh với bạn bè đồng nghiệp. Rất mong các anh, các chị, những người làm công việc sáng tác, nghiên cứu văn học, các anh chị, các bạn yêu thơ, yêu con người nhà thơ Phạm Doanh có thêm các ý kiến để làm sâu sắc thêm những đóng góp của nhà thơ Phạm Doanh cho thơ ca và đặc biệt là thơ ca của Đắk Lắk chúng ta; đồng thời, đó cũng là tấm lòng trân trọng, quý mến của chúng ta đối với một người anh, một người bạn văn chương; qua đó, cầu chúc cho anh luôn luôn thanh thản, an lành viễn du trên miền mây trắng. 

Đặng Bá Tiến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Chúc mừng năm mới 2026
CHÚC MỪNG NĂM MỚI 
BÍNH NGỌ 2026

 
TỔ QUỐC TRÊN HẾT
Luong truy cap
50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập215
  • Hôm nay55,216
  • Tháng hiện tại333,959
  • Tổng lượt truy cập80,627,673
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây