Thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam

Thứ bảy - 13/05/2017 17:23
Ngày 5/5/2017 vừa qua, Trường Đại học KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM đã tổ chức đánh giá cấp trường luận án “Thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam” của NCS Nguyễn Đông Triều. Luận án do TS. Nguyễn Ngọc Quận và PGS.TS Nguyễn Tá Nhí hướng dẫn. Hội đồng chấm luận án đã nhất trí thông qua luận án với 7/7 phiếu xuất sắc. Website Văn học xin giới thiệu Mục lục và một phần của Luận án.
1. GIỚI THIỆU CÁC CHƯƠNG MỤC CỦA LUẬN ÁN

Chương 1. Tổng quan về văn tế và văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

1.1. Nguồn gốc, vai trò của lễ tế và văn tế của Trung Quốc.

1.2. Các dạng văn tế chủ yếu của Trung Quốc (chúc văn, cáo văn, tế văn).

1.3. Diện mạo của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Cách phân loại văn tế; Các trường hợp sáng tác văn tế; Đặc trưng thể loại của văn tế; Trữ lượng của văn tế và nguồn văn liệu dùng cho luận án).

Chương 2. Nội dung chủ yếu của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

2.1. Khẳng định các giá trị đạo đức luân lý chuẩn mực và tính chính danh về đạo đức luân lý ở bản thân tác giả.

2.2. Ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân và tinh thần vì nhân dân (Ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân giai đoạn chống ngoại xâm; Thể hiện tinh thần tôn quân giai đoạn sau nội chiến và sau cuộc chống nội loạn; Ca ngợi tinh thần vì nhân dân).

2.3. Thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả (Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho tướng sĩ hi sinh; Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho nạn dân; Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho cô hồn u uất).

2.4. Thể hiện ý nghĩa trào phúng sâu sắc (Thể hiện tiếng cười hài hước; Thể hiện tiếng cười phê phán, đả kích).

Chương 3. Hình thức nghệ thuật của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

3.1. Hệ thống văn thể của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Phú; Văn xuôi; Thơ; Tạp thể).

3.2. Ngôn ngữ của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Cách dùng từ và cách đặt câu; Điển cố và cách vận dụng điển cố; Cách vay mượn văn liệu và quan niệm dân gian Việt Nam).

3.3. Giọng điệu của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Giọng trang nghiêm; Giọng tâm tình thân thiết; Giọng tự hào; Giọng bi ai oán thán; Giọng căm phẫn; Giọng hào hùng bi tráng; Giọng trào phúng).

3.4. Cách miêu tả tâm trạng qua thời gian và không gian của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

Phụ lục: Danh mục tác giả tác phẩm văn tế; Một số tác phẩm văn tế do tác giả luận án phiên dịch.

2. ĐOẠN TRÍCH (THUỘC CHƯƠNG 2)

SỰ THỂ HIỆN HAI GIỀNG MỐI CHỒNG - VỢ, CHA MẸ - CON CÁI TRONG VĂN TẾ

Một trang trong Thời văn tạp biên (sưu tập nhiều văn tế)

[…] Mục đích đầu tiên của văn tế là tiếc thương, ca ngợi người đã qua đời. Thông qua đó, tác giả còn muốn đưa đến nhiều thông điệp có ý nghĩa to lớn hơn cho người còn sống. Người đã mất, nhưng ngôn hành, đức độ, công huân của họ còn mãi trên đời, xứng đáng là tấm gương cho người đương thời và hậu thế noi theo. Vì vậy, ca ngợi người đã khuất cũng chính là khẳng định, ca ngợi những đức tính tốt đẹp của họ, đồng thời khuyên nhủ người sống học tập những đức tính tốt đẹp ấy.

Những thông điệp này thường được tác giả gián tiếp gửi gắm qua lời ca ngợi và lòng ngưỡng vọng, cũng có khi được trực tiếp nêu ra trong tác phẩm. Trong bài văn tế bạn là Nguyễn Phùng Hiên, Phạm Nguyễn Du từng đau đáu: “Sao quân tử lại không may như thế? Âu cái vận của đạo Nho đã suy dần. Thực có liên quan đến đạo đời! Chứ đâu phải vì tôi quá xót bạn thân!”(1) Một tác giả khác trong Đông Ngạc Tham tụng quan thành phần tế văn cũng cho rằng người hiền tài không được trọng dụng là điều bất hạnh của đạo: “Tấm thân thần tử giữa chốn triều đình phải lui về ẩn nơi thâm sơn cùng cốc, khiến cho sự nghiệp tế thế kinh bang không được sáng tỏ đương thời, mà đời sau cũng không thể nghe thấy. Đó không những là điều bất hạnh của Phu tử mà còn là điều bất hạnh của đạo ta.”(2) Các tác giả cho rằng mỗi người hiền tài là một tài sản vô giá của quốc gia, người hiền tài mất đi là sự mất mát to lớn của đạo đời. Có thể thấy, trong văn tế, khẳng định và giáo dục đạo đời là một trong những nội dung rất được quan tâm, cũng là nội dung có tính nhân văn hướng đến đối tượng người sống rõ ràng nhất của thể loại văn tế.

Đạo đời được thể hiện rõ ràng nhất qua đạo đức và luân lý, hai yếu tố chi phối mọi hoạt động của con người trong xã hội. Hai khái niệm này thường được hiểu là những quy phạm, sự đánh giá tốt xấu về cá nhân hay tập thể, những việc làm hợp với quy phạm chung và nỗ lực đạt tới những quy phạm đó. Đây là hai khái niệm cùng phạm trù nhưng nội hàm không hoàn toàn đồng nhất. Theo tư tưởng Nho giáo, đạo đức chú trọng quá trình và kết quả tự thân thực hiện của cá nhân, chủ yếu liên quan đến các yếu tố cấu thành tư cách con người như “chính tâm”, “thành ý”, “tu thân”; Luân lý chú trọng quan hệ xã hội và quy phạm xã hội, chủ yếu liên quan đến các biểu hiện về phẩm hạnh như “tề gia”, “trị quốc”, “bình thiên hạ”. Ở Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, tất cả quan niệm về đạo đức luân lý đều đứng trên lập trường tư tưởng giáo dục truyền thống Nho giáo.

Trong văn tế, hai khái niệm đạo đức và luân lý được thể hiện rất rõ ở cả hai loại quan hệ: cá nhân với nhau, cá nhân với xã hội. Thông qua đó, chúng ta rút ra được những bài học về đạo đức, luân lý trong văn tế, và có thể nhận biết phần nào quan niệm, nhân cách, lối sống của tác giả. Trong đoạn trích ngắn này, chúng tôi sẽ nói về các giá trị luân lý chuẩn mực trong văn tế, thể hiện ở hai giềng mối chồng - vợ, cha mẹ - con cái.

Theo Trung dung, trong thiên hạ có 5 giềng mối: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Ngoài ra, văn tế còn nói đến giềng mối thầy trò, cũng là một giềng mối quan trọng trong xã hội khoa cử thời xưa.

Đại học minh hoạ các giềng mối đó bằng đức tính của Văn vương nhà Chu, đại diện cho đức tính mà mỗi người cần đạt tới: Làm vua đạt đến đức nhân, làm tôi tỏ rõ đức kính (Văn vương là vua nước chư hầu của nhà Thương), làm con giữ tròn đức hiếu, làm cha rất mực hiền từ, kết giao hết lòng thủ tín. Mạnh Tử - “Đằng Văn công thượng” phát huy ý của Đại học rõ ràng hơn: “Giữa cha con có tình thân ái, giữa vua tôi có mối danh nghĩa, giữa vợ chồng có sự phân biệt, giữa anh em có thứ tự, giữa bạn bè có chữ tín.” Đây là những giềng mối quan trọng xây dựng nên một gia đình, một xã hội, một chế độ, một quốc gia.

Hai giềng mối chúng tôi xét ở đây gồm:

1. Giềng mối chồng - vợ

Gia đình là một phần của xã hội, chồng vợ thuận hoà thì gia đình yên ấm, xã hội phồn vinh. Chồng vợ phải yêu thương, tôn trọng nhau, che chở cho nhau mới được hạnh phúc lâu dài. Mỗi phía đều có nghĩa vụ cần phải làm để đạt được mục đích trên, tức là bổn phận của chồng đối với vợ và những gì vợ phải có trong việc đối xử với chồng.

Xét ở giềng mối này, văn tế phần lớn nói về bổn phận của người vợ. Trong văn tế, giềng mối chồng - vợ được nhìn nhận từ nhiều mối quan hệ khác nhau. Ở quan hệ thân thiết có chồng nói về vợ; con nói về mẹ; cháu nói về bà; em cháu nói về chị, cô, dì… Ở quan hệ xã hội có học trò nói về vợ thầy; bề tôi nói về vợ vua chúa… Dù nhìn từ mối quan hệ nào, bổn phận người vợ luôn được đề cao.

Bổn phận đầu tiên là trọn đạo thờ chồng. Vợ phải kính trọng, phục tùng chồng, thủ tiết với chồng, lo cho chồng ăn học, chồng không thành đạt trên đường công danh sự nghiệp cũng không được phụ rẫy. Phan Huy Ích ca ngợi đạo thờ chồng của Lê Ngọc Hân: “Gìn sách trước đã sáng gương tề mị.” (Văn tế Lê Ngọc Hân)(3) Đời Hán, chồng bà Mạnh Quang là Lương Hồng rất khách khí với vợ, mỗi bữa cơm vợ phải bưng mâm ngang mày (tề mi) mời chồng ăn để tỏ lòng cung kính. Tác giả mượn tích xưa ca ngợi Lê Ngọc Hân đáng sánh với tấm gương bà Mạnh Quang thờ chồng. Ngoài ra, trong văn tế, đạo thờ chồng thể hiện qua nhiều việc làm khác nhau, từ những việc làm nhỏ nhặt hằng ngày thể hiện sự quan tâm chu đáo của người vợ (khi Phạm Nguyễn Du vào Thái học, vợ ông là Nguyễn Thị Đoan Hương ở nhà chuẩn bị “đủ cả gỏi với thịt” để chiều đón ông về), đến tình cảm cảm động hơn của bà vợ thứ của Ngô Thì Sĩ lúc lâm chung dành cho chồng (khi bà bệnh nặng hấp hối, Ngô Thì Nhậm hỏi muốn trối lại điều gì, thì bà nói ngoài việc nhớ chồng ra, không có lời gì khác).

Khi chồng sa cơ thất thế, không thành công trên đường công danh sự nghiệp, vợ phải là người đồng cam cộng khổ, chung tay chống đỡ gia đình. Bà Nguyễn Thị Tồn (vợ Bùi Hữu Nghĩa) được biết đến là người vợ có sự chia sẻ gian truân với chồng thật là cảm động: “Trường khoa mục qua nong chí cả, ít nhiều đà rỡ mặt với non sông; Nhà hàn vi bậu dốc tay nâng, may mắn đặng cất đầu cùng bạn tác. Công danh lỡ vì mang bệnh quỷ, em chẳng phải vợ Mãi Thần ngày trước, thời chưa nên làm thói dể duôi; Khó hèn cam nào dám trách trời, bậu chẳng như vợ Tô Tần thuở nọ, vận chưa đạt mà đem lòng khinh bạc. Phận khó khăn yếu đuối, vóc liễu bồ dầu dãi nắng mưa; Con nhỏ dại thơ ngây, tay chủ quỹ không rời thước tấc.”(4) Bà đủ tam tòng tứ đức, trọn đạo với chồng, tròn trách nhiệm với gia đình, không khinh bạc khi chồng chưa thi đỗ. Hoàn cảnh hai bên “đều không cha mẹ” càng khiến hai vợ chồng đồng cảm, thấu hiểu, khắng khít nhau hơn. Khi Bùi Hữu Nghĩa thi đỗ ra làm quan, bà ở nhà một mình gánh vác việc gia đình, vừa làm mẹ vừa làm cha nuôi dạy con thơ cho chồng yên tâm làm việc nước. Những tưởng cuộc sống như thế đã bớt đi lận đận, nào ngờ tai hoạ xảy đến. Bùi Hữu Nghĩa khi làm quan tại phủ Trà Vang (nay là Trà Vinh), do tính kiêu hãnh, chính trực, bị quan trên ghét, ông Bùi mất chức và bị tù. Bà Tồn vượt đường xa lên tới kinh đô gặp vua Tự Đức kêu oan. Ông Bùi sau đó được tha, nhưng bà Tồn về đến nửa đường thì bị bệnh chết. Cái chết của vợ trong hoàn cảnh đó là nỗi đau xót lớn nhất trong lòng ông. Tuy trong bài văn tế vợ, Bùi Hữu Nghĩa không nói đến việc này nhưng nội dung của nó thể hiện rõ thái độ trân trọng và lòng xót thương vợ. Chỉ cần qua sự việc ấy cũng đủ thấy rõ đạo tòng phu của bà.

Văn tế còn nói đến nhiều bổn phận khác của người vợ trong gia đình đối với cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, con riêng của chồng... Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất là nuôi dạy con cái nên người, cả khi con đã làm quan cũng chỉ dạy cho con điều hay lẽ phải: “Con xuất sĩ mấy lời dạy bảo: Bổng vua thiếu, mẹ cho nhiều ít, đừng tham lam để tiếng cười chê.” (Văn tế mẹ)(5)

Mặc dù văn tế ca ngợi rất nhiều luân lý tốt đẹp của người làm vợ, nhưng hầu như chỉ nhấn mạnh nghĩa vụ chứ không nói đến “quyền hạn”. Đây là điều thiếu sót của văn tế. Nhờ đó, Văn tế Nguyễn Bích Châu của Trần Duệ Tông (1372-1377) và Văn tế Đoàn Thị Điểm của Nguyễn Kiều (1694-1771) nổi bật lên là hai tác phẩm tiên phong về phương diện “quyền hạn” của người làm vợ. Nguyễn Bích Châu (?-1377) có một vị trí trang trọng trong bài văn tế của Trần Duệ Tông: “Cải chánh lòng vua chừ, Phàn Cơ nước Sở; Giữ đúng đạo vợ chừ, Tương Phi bến Ngu.” (Văn tế Nguyễn Bích Châu)(6) Đoàn Thị Điểm (1705-1746) cũng có vị trí như vậy trong mắt Nguyễn Kiều: “Cư xử có lỡ lầm, ai người ngăn bảo? Thơ muốn làm cùng ai bình phẩm? Sách muốn xem cùng ai bạn bầy? Mùa thu có trăng cùng ai chơi? Mùa xuân có cảnh cùng ai ngắm?” (Văn tế Đoàn Thị Điểm)(7)

Theo luân lý Nho giáo về giềng mối vợ chồng, vợ không được quyền bình đẳng mà phải hoàn toàn phục tùng chồng, chồng là người chủ gia đình có quyền quyết định mọi việc. Tuy nhiên, bên cạnh những bổn phận chung của người vợ như các bài văn tế khác ca ngợi, Nguyễn Bích Châu và Đoàn Thị Điểm toả ra một điểm sáng với ý thức răn sửa khi chồng phạm lỡ lầm, nhất là Nguyễn Bích Châu đối với chồng là một vị vua.

Câu hỏi của Nguyễn Kiều “cư xử có lỡ lầm, ai người ngăn bảo” cho thấy trước kia ông vốn đã từng được vợ “ngăn bảo” như thế. Trước sự răn sửa của vợ, người chồng chẳng những không tỏ vẻ khó chịu mà còn xem mình là người may mắn khi có được người vợ như thế. Đối với Nguyễn Kiều, vợ ông còn là người bạn tri âm cùng xướng hoạ thơ văn, cùng dạo chơi, sẻ chia sở đắc. Bài văn tế ngoài ngợi ca, tiếc nhớ người vợ đã qua đời còn thể hiện tinh thần bình đẳng, tiến bộ về vị trí, vai trò của người phụ nữ.

Theo chúng tôi, riêng tác giả Văn tế Nguyễn Bích Châu là điều cần xem lại. Văn bản bài văn tế được tìm thấy duy nhất trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm. Truyền kỳ tân phả không phải là một bộ sử hay tuyển tập văn thơ mà là một tập truyện truyền kỳ “được thể hiện dưới màu sắc hoang đường, quái đản”(8), nội dung của nó mang nhiều yếu tố hư cấu, không hoàn toàn là sự thật lịch sử. Vả lại, Trần Duệ Tông sống vào thế kỷ XIV, trước Đoàn Thị Điểm gần 4 thế kỷ, tại sao bài này không được chép vào tập thơ văn nào mà phải đợi đến nữ sĩ họ Đoàn ghi chép lại? Vì vậy, rất có thể khi viết Truyền kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm đã giả thác lời Trần Duệ Tông viết bài văn tế này tỏ lòng tiếc thương, ca ngợi Nguyễn Bích Châu. Nếu đúng vậy thì đây là tác phẩm thuộc trường hợp “nghĩ chế”, tác giả không phải Trần Duệ Tông mà là Đoàn Thị Điểm. Hơn nữa, sự việc liên quan đến Nguyễn Bích Châu, nếu có thật, là một sự kiện lớn, sách sử chắc chắn phải ghi chép, nhưng ngoài Truyền kỳ tân phả, không có bộ sử nào chép về bà, cho nên thậm chí chưa chắc bà là một nhân vật lịch sử(?).

Về phía các ông chồng, có được người vợ hiền thục đảm đang như thế phải biết thương yêu, quý trọng vợ, phải gắng lập thân để vợ con được vẻ vang. Không ít ông chồng thành danh đều nhờ công lao của vợ gánh vác việc nhà, báo hiếu mẹ cha, nuôi dạy con cái, tần tảo việc ruộng nương, trăm nghề buôn bán lo tiền ăn học. Các ông chồng tác giả văn tế ít nhiều đều yêu vợ thương con, có trách nhiệm với gia đình. Khi vợ chẳng may mất sớm, nhiều người bày tỏ lòng xót thương bằng những bài văn tế rất lâm ly cảm động, Tế Lê phu nhân Chất Khanh văn của Nguyễn Cao có lẽ là bài văn tế vợ đặc sắc nhất, với những câu thể hiện tình cảm vợ chồng và lòng xót thương sâu sắc: “Tháng trước, ta nghe tang bà thím với nhà thân gia, nay lại nghe tang khanh, chưa thể về ngay làng cũ, khóc khanh trước mộ, cúng ở giường thờ, trong đó có điều đại bất đắc dĩ, dám đâu bày tỏ cùng ai! Than ôi! Khanh lâm bệnh, ta không kịp chăm thuốc men, khanh nhập quan, ta không kịp lo khâm liệm, lại không kịp nói lời vĩnh quyết lúc phân ly. Tình chẳng thể nguôi, xa xôi nghìn dặm, luống những đọc văn than thở, gạt lệ ngậm ngùi. Này thời, này cảnh, trăm mối bời bời.”(9) Thậm chí như Phạm Nguyễn Du cho rằng vì mình là người bạc mệnh, khiến cho vợ ông trở thành “số đoản”, tức là ông tự nhận tội về cái chết của vợ.

Trong văn tế, hình ảnh, vai trò của người vợ nói riêng và người phụ nữ nói chung trong xã hội xưa được chú ý, trân trọng hơn so với thực tế. Nhưng xét cho cùng, những đức tính được ca ngợi ở đây vẫn nghiêng về khuynh hướng phục tùng, phục vụ nam giới, chưa có nhiều bước đột phá trong việc giải phóng thân phận người phụ nữ, ít nhất như thái độ trân trọng của Nguyễn Kiều dành cho Đoàn Thị Điểm (và Đoàn Thị Điểm(?) dành cho Nguyễn Bích Châu), mà thậm chí còn bảo lưu tư tưởng cổ hủ, như lời khen ngợi của Phan Huy Ích dành cho Lê Ngọc Hân. Tuy nhiên, có thể cảm thông cho các tác giả, vì điều này chịu sự chi phối của hệ tư tưởng, ý thức hệ phong kiến và quan niệm chung của thời đại.

2. Giềng mối cha mẹ - con cái

Khổng giáo đề ra giềng mối cha - con là “phụ từ tử hiếu”. Vai trò của người cha trong gia đình rất quan trọng vì đấy là tấm gương cho con cháu noi theo. Trong văn tế, giềng mối cha - con của Nho giáo được thể hiện thành giềng mối cha mẹ - con cái, trong đó bổn phận “chỉ ư hiếu” của con đối với cha mẹ rất được đề cao, cho dù là đấng anh hùng đầu đội trời chân đạp đất vẫn là những người con rất mực hiếu thảo. Chữ hiếu được xem là rường cột của mọi đức hạnh, đạo làm con không gì hơn chữ hiếu. Luận ngữ - “Vi chính” nói, đạo làm con đối với cha mẹ, phụng sự khi còn sống, chôn cất đúng lễ khi mãn phần, nghiêm trang khi cúng tế; làm con giữ đạo hiếu là không nên làm điều trái ngược. Thiên “Học nhi” nói, hiếu và đễ là gốc của lòng nhân. Từ đó thấy rằng hiếu hạnh là đạo thường của trời đất, thánh hiền rất coi trọng, là đạo lý căn bản trong cách đối nhân xử thế của mỗi con người.

Biểu hiện cụ thể nhất của chữ hiếu là phụng dưỡng, tôn kính cha mẹ. Bổn phận làm con không chỉ phải lo cho cha mẹ ăn no mặc ấm mà còn phải tôn kính. Đào Phan Duân tỏ rõ tấm lòng hiếu dưỡng của mình: “Khi nghinh dưỡng bôi thương vũ khúc, cũng theo đòi múa áo giỡn sân; Lúc hạ diên hiến quả cung hoa, đâu đã có miếng ngon vật lạ.” (Văn tế mẹ)(10) Làm vui lòng mẹ giống như Lão Lai Tử mặc áo hoa múa hát, mừng thọ mẹ có trái hiến có hoa dâng, nhưng như thế vẫn chưa thoả lòng hiếu của mình dành cho mẹ. Đối với người con chí hiếu, công ơn cha mẹ trả đến trọn đời không hết được. Đến khi cha mẹ qua đời, cảm giác nuối tiếc, ân hận vẫn mãi khôn nguôi. Chúng tử tế mẫu văn của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ điều đó: “Đội mũ mẫn than thân là gái, lấy chi đền chín chữ cù lao; Chống gậy vông tủi phận là trai, lấy chi trả một câu võng cực.”(11)

Chữ hiếu không chỉ được người làm con tự nhận thức thực hiện mà còn được nhìn nhận, khen ngợi từ phía cha mẹ. Một người mẹ kể lại đức tính của con gái: “Thảo với cha, lành với mẹ, như bát nước ỷ không xao.” (Văn mẹ tế con gái)(12) Có thể thấy, trong văn tế, chữ hiếu được thể hiện từ cả hai phía: người làm con tự nhận thấy bổn phận của mình; cha mẹ nhìn nhận và khen ngợi bổn phận của con.

Bổn phận làm trai vừa phải vẹn chữ trung, vừa phải tròn chữ hiếu. Lắm lúc không phải ai cũng có thể chu toàn nợ nước tình nhà. Khi không được cận kề báo hiếu cha mẹ, nhiều người tự nhận đấy là một đại tội. Ngô Thì Nhậm bày tỏ nỗi ân hận trong Bôn tang cáo văn (văn tế cha)(13) thật là thống thiết. Ngô Thì Sĩ mất khi Ngô Thì Nhậm bận việc quan ở kinh đô. Trong bài văn tế, Ngô Thì Nhậm thể hiện nỗi day dứt khôn nguôi vì khi cha còn sống, mình phận làm con không cận kề chăm sóc sớm hôm, khi cha qua đời không được trông thấy mặt, giọt nước mắt suông không thể gột hết tội lỗi này. Ngô Thì Nhậm khóc thương cha, cũng là tự nhận tội với cha. Bản thân là một nhà Nho thấm nhuần đạo lý thánh hiền, lại là một vị “dân chi phụ mẫu” giúp vua gánh vác việc dạy dân, nhưng trọng trách đầu tiên người làm con phải hoàn thành đối với cha mẹ là đạo dưỡng sinh, tác giả tự thấy mình chưa làm được. Tâm trạng dằn vặt, hối lỗi không lúc nào nguôi. Theo ông, mặc dù do bận việc quốc gia nhưng không tròn đạo làm con là tội lỗi không thể tha thứ được.

Tấm gương hiếu hạnh đáng thương, đáng nể phục nhất có thể nói là Hầu Tạo và Nguỵ Khắc Kiều. Hầu Tạo tên là Nguyễn Hữu Tạo, là lãnh tụ phong trào nông dân khởi nghĩa trừ tham quan ô lại, cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo thời Nguyễn sơ. Lê Văn Duyệt bắt mẹ ông rồi giả lời mẹ viết thư dụ ông, nói rằng nếu ra hàng sẽ được tha tội cho về quê phụng dưỡng mẹ già. Tưởng thật, ông ra hàng thì bị bắt xử tử. Mẹ ông sau đó cũng tự tử(14). Nguỵ Khắc Kiều là cháu nội Nguỵ Khắc Tuần (1799-1854, danh sĩ đời Minh Mạng). Ông hoạt động chống Pháp đời vua Hàm Nghi. Năm 1885, khi Hàm Nghi xuất bôn với Tôn Thất Thuyết, ông được phong Phó sứ sơn phòng Quảng Trị, sau đó theo vua sang biên giới Lào. Đến khi Hàm Nghi bị bắt (1888), ông vào rừng hoạt động cùng nhóm văn thân cung cấp vũ khí cho phong trào Cần vương. Ông là người con chí hiếu, khi hay tin mẹ bệnh nặng, tuy biết nguy hiểm nhưng ông vẫn bí mật về thăm. Dọc đường bị tay sai phục kích bắt được. Hoàng Cao Khải lấy tình thân dụ ông ra làm quan, nhưng ông một mực từ chối. Ông bị quản thúc cho đến chết.

Văn tế Hầu Tạo ca ngợi lòng hiếu thảo của Nguyễn Hữu Tạo: “Đạo hiếu ngùi ngùi; Lòng nhân thăm thẳm. Vàng vua Hán dễ tìm ra Quý Bố, những Nam Hồ Bắc Việt thiếu chi mà; Ngọc chàng Từ sang gửi lại Tào quân, vì địa nghĩa thiên kinh là trọng lắm.”(15) Dù biết việc mình đang làm là vì chính nghĩa, nhưng chữ hiếu cũng là một đại nghĩa. Ông ra hàng hoàn toàn không phải vì quan tước bổng lộc, mà chỉ với ước nguyện đơn giản là cứu mẹ đưa về mái lều tranh chăm lo phụng dưỡng. Ước nguyện ấy đã bị quan triều tước bỏ cùng với cái chết thảm thương của hai người từ hiếu. Tuy không được ca ngợi như Nguỵ Khắc Kiều “sống vì vua, thác là vì mẹ, hiếu trung đà hai chữ vẹn toàn” (Văn tế Nguỵ Khắc Kiều)(16) nhưng Hầu Tạo cũng đã thể hiện trọn vẹn chữ hiếu của kẻ làm con.

Chữ hiếu trong văn tế có điểm đặc biệt rất đáng lưu ý, đó là “lấy trung làm hiếu”. Người tiêu biểu cho quan niệm này là Bùi Viện (1841-1878) (trong Văn tế lão mẫu, Bùi Viện nói nhầm thành “lấy hiếu làm trung”)(17). Bùi Viện là chí sĩ triều Tự Đức, từng hai lần phụng mệnh sang Mỹ vận động bang giao. Ông là người con chí hiếu, trên đường đi vận động lần thứ hai trở về, đến Hoành Tân (Nhật) thì được tin mẹ qua đời, ông làm bài văn tế vô cùng thống thiết, trong đó có lời bày giãi: “Ngày xuất cáo chưa kịp lời thưa nói, những là tưởng dưới nhà trên nước, khắc xương chép dạ, biết đâu mà gửi dạ can tràng; Bước viễn du không kịp tính gần xa, những là toan lấy hiếu làm trung, nhắm mắt đưa chân, phận nào có tưởng gì vui vẻ.” (Văn tế lão mẫu)(18) Nhiều tác giả là mệnh quan triều đình nhậm chức nơi xa, đi công cán nước ngoài hoặc lo dẹp loạn can qua không vuông tròn hiếu đạo. Không phải họ xao nhãng đạo làm con mà vì trách nhiệm thần tử nặng nề, đành bỏ tư tình thực thi công vụ, ngõ hầu không làm xấu hổ song thân, đó cũng là một cách báo đền ơn dưỡng dục.

Quan niệm “lấy trung làm hiếu” của Bùi Viện phần nào giống với quan niệm “chuyển hiếu thành trung” của Hoàng Diệu. Văn viếng Hoàng Diệu có đoạn nói rất cụ thể về việc chuyển hiếu thành trung: “Mọi người đều bảo ông hi sinh là giữ vẹn lòng trung. Nhưng mấy ai hiểu được rằng, lòng trung của ông bắt nguồn từ chữ hiếu. Xem tờ tạ biểu gần đây của ông, thấy có câu: Không trung với vua là không tròn chữ hiếu.” (19) Trước đó, mẹ Hoàng Diệu (1828-1882) được vua ban tứ một số ngân lụa và ba cây quế, ông viết tờ tạ biểu dâng vua, câu cuối nói rằng: “Không trung với vua là không tròn chữ hiếu, dám đâu để mẹ phải mang lòng hổ thẹn. Việc gì hữu ích cho quốc gia thì chẳng từ nan. Chỉ là một chút đáp đền những gì nhà vua ban tứ.”(20) Qua đó thấy rằng, Hoàng Diệu đã chuyển chữ hiếu thành lòng trung, tận tâm tận lực với quốc gia đến khi tử tiết, vừa để đáp đền ơn vua vừa để mẹ không phải mang lòng hổ thẹn, đó cũng là cách giữ tròn chữ hiếu.

Chữ hiếu trong văn tế được thể hiện khá phong phú, cụ thể. Ngoài phụng dưỡng cha mẹ ruột, người làm rể làm dâu cũng phải kính hiếu cha mẹ vợ, cha mẹ chồng theo quan niệm tứ thân phụ mẫu. Chữ hiếu còn thể hiện qua nhiều cách thức khác nhau như nhớ lại hành vi, cử chỉ, lời giáo huấn thường ngày; ca ngợi đức độ, tài năng, tính cách; thái độ trang nghiêm, kính cẩn khi đứng tế; ước nguyện người quá cố được siêu thăng về cõi an lạc… Trong đó “lấy trung làm hiếu” như là một “giải pháp” cho những người con chí hiếu vì bận việc quốc gia không thể vẹn toàn đạo phụng dưỡng. Nhớ lại Ngô Thì Nhậm, nếu ông sớm nhận ra đạo lý này chắc sẽ đỡ phần nào cảm giác tội lỗi với cha. […]

Chú thích

(1) Phạm Nguyễn Du, Tế Hữu đốc thị Nguyễn Phùng Hiên, xem: Nguyễn Huy Mỹ, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Huy Quýnh cuộc đời và thơ văn, NXB. Lao Động - TT Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, HN, 2012, tr.224.

(2) Thiêm đô quan ở La Khê, Đông Ngạc Tham tụng quan thành phần tế văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Dụ tế huân thần 諭祭勲臣, Lập Trai Phạm Quý Thích, Quế Đường Lê Quý Đôn, VHN, KH: A.547, tr.11b.

(3) Phan Huy Ích, Văn tế Lê Ngọc Hân, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Văn tế cổ và kim, NXB. Văn hoá - Viện Văn học, 1960, tr.45.

(4) Bùi Hữu Nghĩa, Văn tế vợ, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.62.

(5) Đào Phan Duân, Văn tế mẹ, xem: Lộc Xuyên Đặng Quý Địch (sưu tầm, chú giải), Văn tế ở Bình Định, NXB. Văn hoá Dân tộc, HN, 2008, tr.83.

(6) Trần Duệ Tông(?), Nguyễn Bích Châu tế văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Hội đồng biên soạn Tổng tập văn học Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam, NXB. KHXH, HN, tập 3B, 1994, tr.358.

(7) Nguyễn Kiều, Văn tế Đoàn Thị Điểm, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.11.

(8) Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB. Thế giới, HN, 2004, tr.1833.

(9) Nguyễn Cao, Tế Lê phu nhân Chất Khanh văn, xem: Phan Văn Các, “Bài văn tế vợ của Nguyễn Cao”, Tạp chí Hán Nôm, số 1, VHN, HN, 1987, tr.69.

(10) Đào Phan Duân, Văn tế mẹ, sđd., tr.83.

(11) Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế mẹ, xem: Cao Tự Thanh, “Thêm một số thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu”, Tạp chí Hán Nôm, số 2, VHN, HN, 1988, tr.67.

(12) Khuyết danh, Văn mẹ tế con gái, xem: Lê Sum, Việt âm văn uyển, Imprimerie J. Việt, Sài Gòn, 1919, tr.98.

(13) Ngô Thì Nhậm, Bôn tang cáo văn, xem: Lâm Giang, Nguyễn Công Việt, Ngô Thì Nhậm toàn tập (tập 2), NXB. KHXH, Hà Nội, 2004, tr.519.

(14) Theo Phong Châu và Nguyễn Văn Phú (sđd.), Hầu Tạo tên là Nguyễn Hữu Tạo (tr.59). Theo một thông tin khác trên http//:ditichlichsuvanhoa.com/dttc/MO-VA-NHA-THO-LE-HAU-TAO-a171 về một nhân vật có tên Lê Hầu Tạo với chi tiết tương tự: Lê Hầu Tạo là người khởi xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân tiêu biểu ở Nghệ Tĩnh nửa đầu thế kỷ XIX chống lại chế độ bóc lột hà khắc của triều Nguyễn. Mộ và nhà thờ ông được công nhận di tích lịch sử năm 1995. Nguyễn Hữu Tạo cũng là Lê Hầu Tạo chăng?

(15) Khuyết danh, Văn tế Hầu Tạo, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.58.

(16) Khuyết danh, Văn tế Nguỵ Khắc Kiều, xem: Đinh Văn Minh, “Họ Nguỵ ở Xuân Viên và bài văn Nôm của tám giáp tế Nguỵ Khắc Kiều”, Thông báo Hán Nôm học 1997, VHN, 1997, tr.384.

(17) Bùi Viện, Văn tế lão mẫu, xem: Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB. Văn học, HN, tái bản 1998, tr.514.

(18) Bùi Viện, Văn tế lão mẫu, sđd., tr. 514.

(19) Khuyết danh, Tỉnh quan vãn cố Đốc đường Hoàng tướng công trướng văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Danh công biểu tuyển 名公表選, VHN, KH: A.582, tr.137b.

(20) Khuyết danh, Tỉnh quan vãn cố Đốc đường Hoàng tướng công trướng văn (Nguyễn Đông Triều dịch), sđd., tr.138a.

Nguyễn Đông Triều
TS,- Khoa Văn học, Trường ĐH KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM
Nguồn http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/luan-van-cua-ncs-hvch-sv/6419-th%E1%BB%83-lo%E1%BA%A1i-v%C4%83n-t%E1%BA%BF-trong-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-trung-%C4%91%E1%BA%A1i-vi%E1%BB%87t-nam.html

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Luong truy cap
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập28
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm27
  • Hôm nay5,836
  • Tháng hiện tại236,171
  • Tổng lượt truy cập1,448,863
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây