Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min ... Tiếng Việt thời LM de Rhodes (phần 2) - Nguyễn Cung Thông

Thứ năm - 20/04/2017 13:02
Phần này bàn về các cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vào thời linh mục (LM) Alexandre de Rhodes đến An Nam truyền đạo. Cách gọi đại từ nhân xưng với các ngôi chính là vết tích của truyền thống ngữ pháp La Tinh như sẽ thấy rõ hơn ở phần sau.
Bài này chú trọng đến cách dùng vào thời các giáo sĩ qua An Nam, chứ không phê bình cách phân loại này có chính xác hay không cho loại hình ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt. Một điều rất rõ qua các tài liệu vào thời này là LM de Rhodes phải đối phó với một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ, nhất là cách xưng hô thật là phức tạp khiến ông phải giải thích bằng nhiều trang giấy hơn so với các cách dùng khác như danh từ, động từ, giới từ ... Các LM Dòng Tên cũng như các Dòng khác đều đã học ngữ pháp La Tinh kỹ lưỡng ngoài những kinh kệ bằng La Tinh dùng hàng ngày, nên đều có khả năng ghi chép một ngoại ngữ qua ‘mẫu có sẵn’ hay ngữ pháp La Tinh. Kết quả là tài liệu ghi lại ngôn ngữ địa phương vào thế kỷ XVI và XVII trở nên cần thiết trong việc tìm hiểu lịch sử hình thành chúng. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ) của các đại từ nhân xưng. Các cách dùng đại từ nhân xưng trong bản chữ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL) cũng được tham khảo vì khả năng xuất hiện cùng thời kỳ hay ngay sau thời VBL. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Các chữ viết tắt khác là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/124), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo) LM (Linh Mục), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK).
Để hiểu rõ cách dùng đại từ nhân xưng của tiếng Việt cách đây gần 400 năm, ta sẽ xem lại bối cảnh truyền giáo cũng như nội dung các tài liệu này từ những góc độ khác nhau như ngôn ngữ tri nhận (NNTN/Cognitive Linguistics) chẳng hạn. Văn hóa cổ truyền Á Đông không khuyến khích cách dùng trực tiếp đại từ danh xưng vì khiêm nhường, hay muốn tỏ thái độ tôn trọng người chung quanh hay người nghe. Điều này phản ánh qua cảm nhận của pháp sư Nghĩa Tịnh (635-713) 義淨 vào đời Đường, sau khi có dịp học/trải nghiệm và so sánh nhiều ngôn ngữ khác nhau trên con đường tìm đạo:
若有人問云。爾親教師其名何也。或問。汝誰弟子。或可自有事至須說師名者。皆應言我因事至說鄔波馱耶名。鄔波馱耶名某甲。西國南海稱我不是慢詞。設令道汝亦非輕稱。但欲別其彼此。全無倨傲之心。不並神州將為鄙惡。若其嫌者改我為今。斯乃咸是聖教。宜可行之
Nhược hữu nhân vấn vân. nhĩ thân giáo sư kì danh hà dã。 hoặc vấn。 nhữ thùy đệ tử。 hoặc khả tự hữu sự chí tu thuyết sư danh giả。 giai ứng ngôn ngã nhân sự chí thuyết ổ ba đà da danh。Ổ ba đà da danh mỗ giáp。Tây quốc nam hải xưng ngã bất thị mạn từ。 thiết lệnh đạo nhữ diệc phi khinh xưng。 đãn dục biệt kì bỉ thử。 toàn vô cứ ngạo chi tâm。 bất tịnh thần châu tương vi bỉ ác。 nhược kì hiềm giả cải ngã vi kim。 tư nãi hàm thị thánh giáo。 nghi khả hành chi
Tạm dịch/NCT: Nếu có ai hỏi "tên của upādhyāya (Ổ ba đà da ~ thầy dạy) anh là gì?" hay "Anh là đệ tử ai?" hoặc trong các trường hợp phải nói tên của thầy dạy mình, thì nên nói rằng "Thầy tôi tên là người ấy". Bên Ấn Độ và Nam Hải, dùng tôi/tao không có nghĩa ngạo mạn, cũng như không có ý khinh thường khi xài đại từ anh/chị/mày. Cách dùng này để phân biệt người này với người nọ mà không có ý khinh miệt. Không như cách dùng như vậy ở Thần Châu (Trung Quốc) thì bị xem là ác ý không tốt. Nếu không thích dùng tôi/tao, thì dùng "người này, đây ..." thay vì tôi/tao. Đây là những lời Phật dạy. Thực hành các điều trên thì thật là thích hợp (trích từ quyển 3 "Nam Hải Kí Quy Nộp Pháp Truyện" 南海寄歸內法傳 - Nghĩa Tịnh soạn năm 691).
Gần đây hơn và vào thập niên 1930, học giả Phan Khôi cũng từng suy nghĩ về đại từ tiếng Việt từ lăng kính văn hóa Pháp/Hán và phân vân "Tôi thường lấy làm lạ sao trong tiếng nói hiện hành của ta không có một thứ đại danh từ trung lập, nghĩa là không trọng, không khinh, ai nấy dùng mà xưng mình, xưng người đều được cả" (Việt ngữ nghiên cứu, trang 129).
Thật ra, đại từ nhân xưng là một cửa sổ hé mở cho ta thấy phần nào truyền thống văn hóa giao lưu và tư tưởng của người trước, cũng như đã để lại không ít vết tích trong tiếng nói con người. Pháp sư Nghĩa Tịnh đã chỉ rõ một khác biệt giữa cách xưng hô của phương Đông và phương Tây vào thế kỷ VII, tư duy này rất ít thay đổi cho đến ngày hôm nay - khi giao lưu văn hóa ngôn ngữ Đông Tây đã bắt đầu có hiệu lực hơn trước vì nhiều tác động khác nhau. Để ý cách dùng mỗ giáp từ thời cổ đại trong đoạn văn trên, phần sau sẽ đi vào chi tiết thêm.
1. Bối cảnh truyền giáo vào thời VBL ra đời
Các LM Dòng Tên đều được huấn luyện và đào tạo về giáo lý (thần học) và ngôn ngữ (nhất là ngữ pháp La Tinh/cổ điển) rất cẩn thận trước khi đi đến các địa phương trên thế giới để truyền đạo, ngoài ra vấn đề học tập là một hoạt động luôn được các LM nhắc đến. Để hiểu rõ các đóng góp của GS Dòng Tên trên phương diện ngôn ngữ, nhất là trường hợp của LM Alenxandre de Rhodes, sau đây là vài hoàn cảnh đáng chú ý
1.1 LM Thomas Stephens (1549-1619) soạn và in cuốn ngữ pháp tiếng Konkani (1640), một phương ngữ ở vùng tây nam Ấn Độ. Đây là sách in đầu tiên của ngôn ngữ địa phương (vùng Goa, Ấn Độ) này, cùng với sách giảng về giáo lý (Catechism) năm 1622.
1.2 LM Ludovico Bertonio (1555−1628) soạn và in hai cuốn ngữ pháp và tự vị của tiếng Aymara (1612) đầu tiên, không có các tài liệu này thì việc khôi phục và tìm hiểu lịch sử tiếng Aymara trở nên cực kỳ khó khăn. Hiện nay, Aymara là ngôn ngữ chính thức của các nước Bolivia và Peru.
1.3 LM Jean de Brébeuf (1593 – 1649), sau được phong Thánh bởi tòa thánh La Mã (1930), học và soạn một số tài liệu về tiếng Huron (một phương ngữ ở Canada) và đặt nền móng cho một số công trình ngôn ngữ về tiếng này. Ông cũng soạn "Phép giảng giáo lý" (Catechism) tiếng Huron viết bằng chữ La Tinh lần đầu tiên. Ông cũng là tác giả viết lời cho bài ca Giáng Sinh - "Huron Carol" - xưa nhất của Canada.
1.4 LM Matteo Ricci (1552 – 1610) đến Macau vào năm 1582. Ông có công lớn trong quá trình truyền đạo CG ở Trung Hoa. LM Ricci đã viết nhiều tài liệu bằng chữ Hán như Thiên Chủ Thực Lục, Thiên Chủ Thực Nghĩa, Thiên Học Thực Lục, Thiên Học Thực Nghĩa, Kỉ Hà Nguyên Bổn, Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ (năm 1602/Bắc Kinh  - LM Ricci từng làm cho các bậc danh sĩ TQ ngạc nhiên và thán phục khi cho thấy bản đồ thế giới người Âu Châu vẽ; khác hẳn với bản đồ TQ vẽ - trong đó các nước chung quanh TQ nhỏ tí và nếu hợp lại thì không bằng một tỉnh TQ thời bấy giờ), Tây Tự Kì Tích, Nhị Thập Ngũ Ngôn, Giao Hữu Luận, Tây Quốc Kí Pháp, Biện Học Di Độc (xuất bản năm 1635, ghi nhận các trao đổi giữa CG và Tịnh Độ Tông), Đồng Văn Toán Chỉ, Thật Dụng Toán Thuật Khái Luận, Trắc Lượng Pháp Nghĩa, Viên Dung Giác Nghĩa ...v.v... Nhà Thần Học LM Peter C. Phan (Phan Đình Cho) còn đề nghị là LM de Rhodes đã dựa vào "Thiên Chủ Thật Nghĩa" để soạn "Phép Giảng Tám Ngày" (bài viết “Alexandre de Rhodes and Inculturation in Seventeenth-Century VietNam" trang 135-140, trong cuốn "Mission and Catechesis" Maryknoll, N.Y. Orbis Books 1998). Cũng nên nhắc đến câu chuyện sau liên hệ đến LM de Rhodes, sau khi rời Goa (1622) đến Ma Cao, ở đó ông từng ghi nhận (cho thấy rõ ràng ảnh hưởng của LM Ricci):
"Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao la. Trái