14 Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ điển và điển cố (Kì 14)

Thứ năm - 06/04/2017 16:02
(36) 绿叶成阴[Lục diệp thành âm] (ván đã đóng thuyền / gạo đã thành cơm)
Thành ngữ có xuất xứ từ giai thoại sau:
Đỗ Mục, thi nhân thời Đường, vốn dòng danh gia, thế phiệt. Ông nội Đỗ Mục là Đỗ Hữu làm đến tam công, (Tư Không triều Đường Đức tông, Tư Đồ triều Đường Đại tông), nên Đỗ Mục sớm thụ hưởng một sự giáo dục tử tế, ông có học vấn vững chắc cùng với trí thông minh di truyền.
Đỗ Mục nổi tiếng từ rất sớm. Thi ca của Đỗ Mục ngay từ nhỏ đã hào sảng, tuyệt diệu.
Lẽ ra Đỗ Mục sớm đỗ đạt, làm quan, nhưng tệ cái là trời lại cho thêm Đỗ Mục tính cách lãng tử, lại ngang tàng. Những người như ông thì khó thành đạt ở đời, chỉ dễ thành nhân.
Thuở trẻ Đỗ Mục ít để tâm đến chuyện thi cử, đỗ đạt để làm quan mà ông hay lang thang đầu đường xó chợ, lấy chuyện uống rượu, đánh bạc, chơi gái, kết giao giang hồ… làm vui.
Một lần Đỗ Mục lạc đến Hồ châu, tình cờ gặp trên đường một bà già dắt theo một bé gái chừng 9, 10 tuổi. bé gái tuy còn nhỏ nhưng đã ẩn ước một nhan sắc cực kỳ xinh đẹp. Đỗ Mục như xao xuyến trong lòng nên cậy người mai mối đến dạm hỏi. Đỗ Mục hẹn rằng sau 10 năm mà không thấy trở lại thì tùy bà lão định đoạt có thể gả con cho người khác .
Thế rồi việc đờì biến đổi, Đỗ Mục không còn dịp nào quay lại Hồ Châu.
Mãi 14 năm sau, khi ấy Đỗ Mục đã là Thứ Sử dưới triều tể tướng Chu Trì, Đỗ Mục cậy Chu chuyển đến trấn nhậm Hồ Châu.
Về Hồ Châu, Đỗ Mục lập tức đi tìm cố nhân. Tiếc thay, bé gái năm xưa đã lấy chồng được 3 năm và đã sinh được 2 con trai.
Giận thân và tiếc của, Đỗ Mục làm bài thơ: THAN HOA
Bài thơ nguyên văn:
嘆花
自是尋春去校遲,
不須惆悵怨芳時。
狂風落盡深紅色,
綠葉成陰子滿枝。
 
Thán hoa
Tự thị tầm xuân khứ hiệu trì,
Bất tu trù trướng oán phương thì.
Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc,
Lục diệp thành âm tử mãn chi.
 
Dịch nghĩa:
THAN TIẾC CHO HOA
Từ thuở ấy đi tìm hương xuân, nay tính lại thì đã muộn rồi,
Cũng đừng nên đau xót hờn giận mùa thơm.
Cơn gió dữ thổi rụng hết hoa màu hồng thắm,
Lá biếc trở nên um tùm, trái kết đầy cành.

 Dịch thơ:
         THAN TIẾC CHO HOA
Tìm hoa mình trót chậm chân
Hững hờ chi oán ngày xuân phụ tình
Gió đưa hồng thắm tan tành
Rợp cây lá biếc, đầy cành quả non
                     (Bản dịch của Ngô Tất Tố)

          Từ ấy tìm xuân muộn đã đành
Xin đừng buồn bã trách mùa xanh
Gió cuồng thổi rụng hoa hồng thắm
          Lá biếc rợp cây, trái trĩu cành  
                (Bản dịch của Nguyễn Ngọc Kiên)

Cố sự này chép trong “Đường thi kỷ sự” của Kế Hữu công, một tác gia đời Tống.
Sau này “Lục diệp thành âm” thành điển tích văn học chỉ người con gái đã lấy chồng, có con, không thể vãn hồi. Nó giống như thành ngữ “ván đã đóng thuyền” hoặc “gạo đã nấu thành cơm” của tiếng Việt và cũng gợi nhớ đến câu ca dao của Việt Nam:
Ngày đi lúa chửa chia vè
Ngày về lúa đã chin hoe đầy đồng
Ngày đi em chửa có chồng
Ngày về em đã con bồng con mang!

(37)百发百中 [ bách phát bách trúng] (trăm phát trăm trúng)
Chuyện kể rằng:
Ngày xưa, thời Xuân Thu Chiến Quốc, dưới trướng của Sở Công Vương có hai người bắn súng lừng danh thiên hạ. Một người tên là Phan Đáng, còn người kia tên là Dưỡng Do Cơ.
Có một lần, trong lúc tập luyện, Phan Đáng bắn ba phát tên đều trúng vào hồng tâm,  nên ông ta lấy làm đắc ý lắm. Lúc ấy, Dưỡng Do Cơ cũng ở đó, tỏ vẻ không thán phục, bảo rằng: “Bắn trúng hồng tâm có gì là đặc biệt. Cách xa một trăm bước, mũi tên của tôi có thể xuyên qua bất kỳ chiếc lá nào của cây dương liễu”. Nói rồi, Dưỡng Do Cơ giương cung. Quả nhiên, mũi tên xuyên qua chiếc lá dương liễu trên cành cây um tùm.
Nhưng Phan Đáng vẫn không chịu, liền chọn lấy ba lá liễu ở ba chỗ khác nhau, đánh dấu và thách Dưỡng Do Cơ bắn trúng. Dưỡng Do Cơ chỉ nhìn qua, rồi lùi vào vị trí để bắn. Thế rồi, cả ba mũi tên như có mắt, lần lượt xuyên qua ba chiếc lá trước sự kinh ngạc của mọi người.
Về sau, trong cuốn sử ký của nhà viết sử nổi tiếng Tư Mã Thiên, có đoạn viết: “Nước Sở có một người tên là Dưỡng Do Cơ, là một người bắn tên rất kỳ tài, cách xa trăm bước mà “bách phát bách trúng”.
Dưỡng Do Cơ chỉ bắn cả thảy có bốn phát tên trong cuộc thi tài ấy, mà sao Tư Mã Thiên lại viết là “bách phát bách trúng?” Thì rat a phải hiểu là, “百” [bách] (nghĩa là một trăm) không được dùng để chỉ số lượng cụ thể và xác định. Một nhà thiện xạ được ca ngợi là “bách phát bách trúng” không nhất thiết phải giương cung đến một trăm lần. “Bách” ở đây được dùng với nghĩa biểu trưng là “nhiều, rất nhiều”, còn kết cấu “bách... bách...” biểu thị sự đối xứng truyệt đối như là “bao nhiêu... thì... bấy nhiêu”.
Trong tiếng Việt, thành ngữ này có hai dạng đồng nghĩa được dùng song song: “bách phát bách trúng” và “trăm phát trăm trúng”.
Về sau “bách phát bách trúng’ còn để chỉ khả nămg của những người làm việc gì cuũng đạt kết quả như ý muốn. Cũng vậy, hiện nay, “trúng” đâu phải chỉ là trúng đích mà còn có nghĩa là đạt kết quả, là thành công nữa.
Chẳng hạn: Điểm cầu tự 'trăm phát trăm trúng' cho du khách hiếm muộn ...(vn express)
“Muốn có thai, 'yêu' thế nào để trăm phát trăm trúng” (soha.vn/..)

(38) Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt
Thời Xuân Thu, nhà triết học Lão Tử nhận thấy rằng, tất cả mọi vật trên thế giới đều phù hợp với một quy luật khách quan, quy luật khách quan này khống chế tất cả diễn biến thay đổi của vũ trụ. Tất cả những người và sự vật nào vi phạm quy luật khách quan này đều bị trừng phạt tương ứng. Trong “Đạo đức kinh” có viết: “Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt”. Đạo trời như lưới, kẻ ác nhất định bị trừng phạt, lưới trời khôn thoát.
Tương đương với thành ngữ này người Trung Quốc còn nói: 善有善报,恶有恶报 [thiện hữu thiện báo, ác  hữu ác báo] nghĩa là thiện ác đều có báo ứng. Tốt xấu cuối cùng đều có kết cục tương ứng.
Thành ngữ này dùng nhiều trong tiếng Việt theo lối dịch nghĩa. Nhất là trong báo chí.
Bấm “lưới trời lồng lộng” và google trong 0,52 giây có ngay 11000 kết quả. Có những bài tỏ ra hết sức lạc quan. Chẳng hạn: “Trịnh Xuân Thanh: Lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó thoát lắm!” Hoặc có những tít báo hết sức bắt mắt “'Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát'... là đây”! |( Pháp luật online)

(39) 为人作嫁 [vi nhân tác gia] (May áo cưới cho người khác).
Thành ngữ này có xuất xứ từ bài thơ Bần nữ của Tần Thao Ngọc  đời Vãn Đường. Nguyên văn:
貧女
蓬門未識綺羅香,
擬托良媒亦自傷。
誰愛風流高格調?
共憐時事儉梳妝!
敢將十指誇針巧,
不把雙眉斗畫長。
苦恨年年壓金線,
為他人作嫁衣裳!
 
Bần nữ
Bồng môn vị thức ỷ la hương,
Nghĩ thác lương môi diệc tự thương.
Thuỳ ái phong lưu cao cách điệu?
Cộng liên thời thế kiệm sơ trang.

Cảm tương thập chỉ khoa châm xảo,
Bất bả song mi đấu hoạ trường.
Khổ hận niên niên áp kim tuyến,
Vị tha nhân tác giá y thường.
 
Dịch nghĩa
Ở chốn lều tranh chưa biết đến mùi là lượt
Định nhờ mối lái cũng chỉ thương mình
Ai là kẻ quý người có cách điệu thanh cao
Cùng thương những người ở đời phải sơ sài trang điểm
Đâu dám khoe mười ngón tay khéo đường kim chỉ
Không muốn kẻ dài đôi lông mày để đua xinh tươi
Tủi hờn về nỗi năm nào cũng phải ấn lên sợi kim tuyến
Để thêu quần áo cưới cho người khác!

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Mùi là lượt, cửa bồng chưa biết,
Cậy mối manh, cũng thiệt mọi điều.
Ai yêu cách điệu phong lưu,
Đều thương lúc phải kém chiều điểm trang.
Tay mười ngón khoe khoang tài nghệ,
Đôi lông mày không kẻ nét dài.
Mỗi năm kim tuyến đính cài,
May thuê xiêm áo cho người tủi thay.

Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB Văn hoá thông tin, 1995

Nghĩa bóng của thành ngữ này là: chịu khổ thay cho người.
                                        
Nguyễn Ngọc Kiên

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Kiên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây