Toàn cảnh trận hải chiến đảo Gạc Ma năm 1988 khiến 64 chiến sĩ hy sinh

Thứ tư - 14/03/2018 03:59
Ngày 14/3 cách đây 30 năm, Trung Quốc cho tàu hộ vệ tên lửa và binh lính tấn công, xâm chiếm cụm đá Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao (quần đảo Trường Sa), bắn chìm 2 tàu vận tải HQ. 604, HQ. 605, thảm sát 64 chiến sĩ, chiếm trái phép bãi đá Gạc Ma của Việt Nam.
Toàn cảnh trận hải chiến đảo Gạc Ma năm 1988 khiến 64 chiến sĩ hy sinh
Theo tư liệu lịch sử, hai tháng đầu năm 1988, sau khi chiếm giữ trái phép 5 bãi đá gồm: Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Ga Ven, Xu Bi, quân Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị thực hiện ý đồ thôn tính 3 đảo: Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Trước sự bành trướng ngang ngược của quân Trung Quốc, Quân chủng Hải quân Việt Nam xác định, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường tiếp tế của ta cho các căn cứ tại quần đảo Trường Sa.

Vì vậy, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Hải quân Việt Nam hạ quyết tâm đóng giữ Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Quân chủng Hải quân Việt Nam điều 3 tàu vận tải mang khí tài, vật liệu xây dựng đóng giữ các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Ngày 12/3/1988, tàu HQ. 605 (thuộc Lữ đoàn 125), do ông Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng, xuất phát từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, Tàu HQ. 605 đến Len Đao và cắm cờ Tổ quốc lên đảo (lúc 5h ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của ta.

Tiếp đó, 9h ngày 13/3/1988, tàu HQ. 604 do ông Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ. 505 do ông Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Lớn tiến về Gạc Ma, Cô Lin.

Phối hợp với hai tàu HQ. 604 và HQ. 505 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do ông Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu).

Trả lời PV VTC News, cựu binh Nguyễn Văn Thống (quê Quảng Bình - người trực tiếp tham gia chiến đấu trên tàu HQ. 604 tại Gạc Ma ngày 14/3/1988) cho biết, 6h ngày 14/3/1988, những người lính trên tàu HQ. 604 cùng nhau thức dậy, mọi chuyện vẫn chưa có gì. Khoảng một tiếng sau, các chiến sĩ thấy tàu Trung Quốc xuất hiện.

"Sau đó, quân Trung Quốc lái ca nô đến và nói đây là đảo của họ và bắt quân mình rời đi. Tuy nhiên, chúng tôi đáp lại họ rằng, đây là đảo của Việt Nam. Lúc sau, thấy quân Trung Quốc cắt dây neo tàu, chúng tôi lại ra nối lại”, cựu binh Thống kể.

Cùng lúc này, Thiếu uý Trần Văn Phương (quê Quảng Bình) dẫn đầu một đoàn tiến vào đảo Gạc Ma cắm cờ để khẳng định chủ quyền Việt Nam. Khi quân Trung Quốc xông vào cướp cờ, Thiếu uý Trần Văn Phương cùng các chiến sĩ thuộc quyền lao vào giằng lại.

Các chiến sĩ công binh cũng lao vào hỗ trợ, với cuốc, xẻng, gạch đá giao chiến để tránh gây cớ bùng nổ xung đột vũ trang.

Trong lúc giành giật, lính Trung Quốc đã nổ súng, bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và 2 chiến sĩ Nguyễn Mậu Phong, Đậu Xuân Tư.

“Lúc đó, tôi thấy người anh Phương đầy các vết đạn và máu nhưng khi gục xuống anh vẫn giữ vững lá cờ Tổ quốc trên tay”, cựu binh Gạc Ma Nguyễn Văn Thống sụt sùi kể.

Không ép được bộ đội ta rút khỏi đảo, 7h30 ngày 14/3, hai tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu HQ. 604 của ta, rồi bất ngờ cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu đánh trả quyết liệt.

Trận đánh diễn ra mỗi lúc thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 Trần Đức Thông cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ. 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6h ngày 14/3/1988, tàu HQ. 505 đã cắm hai lá cờ lên đảo. Khi tàu HQ. 604 của ta bị chìm, Thuyền trưởng tàu HQ. 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo ủi bãi.

Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, hai tàu của Trung Quốc quay sang tấn công tàu HQ. 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu HQ. 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy.

8h15 ngày 14/3, bộ đội trên tàu HQ. 505 vừa dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ. 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm.

Cán bộ, chiến sĩ của Tàu HQ. 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin. Cho đến nay, là cờ đỏ sao vàng của Việt Nam vẫn phấp phới tung bay trên đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8h20 ngày 14/3, tàu của Trung Quốc bắn chìm tàu HQ. 605 của ta. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ. 605 phải dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn (đến 6h ngày 15/3 mới đến đảo).

Tại Len Đao, sau trận chiến Gạc Ma, chúng ta đấu tranh kiên quyết, khiến Trung Quốc lui quân, ta bảo vệ thành công Len Đao đến hôm nay.

 (Tổng hợp)
Quỳnh Hải
Nguồn https://vtc.vn/toan-canh-trung-quoc-danh-chiem-dao-gac-ma-khien-64-chien-si-hy-sinh-d386152.html

64 liệt sĩ đã hy sinh ngày 14-3-1988 trong trận chiến bảo vệ Gạc Ma, quần đảo Trường Sa:

1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.

2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.

3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam)

4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).

6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng

7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình

8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).

9 - Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).

10- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.

11- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.

12- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).

13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa

14- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).

15- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình

16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.

17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).

18- Kiều Văn Lập, quê Phù Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.

19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).

22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).

24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).

26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.

27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).

28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).

29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.

30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).

31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).

32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).

33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).

34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).

35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).

36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).

37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.

38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).

39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.

40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.

41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình)

43 - Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).

44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).

47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).

48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.

50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng)

51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).

58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).

59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).

60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định)

61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. Bình).

63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).

64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây