“Tiếng Việt từ thế kỉ 17 - tản mạn về hát xẩm xoan” (phần 28)

Thứ sáu - 12/03/2021 19:17
Phần này bàn về "hát xẩm xoan" trong tiếng Việt từ thời bình minh của chữ quốc ngữ đến nay, đặc biệt là chữ xoan trong cách dùng trên.
Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt hay Hán).
Số là anh Ngô Thanh Nhàn (Temple University, Philadelphia, Mỹ) vào tháng 7 năm 2020 có hỏi về chữ rŏan rất lạ và đáng chú ý, từng xuất hiện một lần trong cụm từ rŏan xẩm - VBL trang 882 - xem hình chụp bên dưới. Bài này bàn về các vấn đề liên hệ đến dạng rŏan này cũng như dạng xẩm hi vọng giải đáp phần nào câu hỏi đặt ra.
 VBL trang 882
1. Hát xẩm - trích Việt Nam Phong Tục
Hát xẩm là loại nhạc hát rong, hát dạo của đường phố , được cụ Phan Kế Bính (1875-1921) tóm tắt trong cuốn Việt Nam Phong Tục (1915) như sau "Những người đui mù lòa mắt học nghề đàn hát, rồi rủ nhau một tụi độ năm, sáu người, vừa đàn ông vừa đàn bà, dắt nhau đến các nơi thành thị, kiếm chỗ đông người, trải chiếu ngay các nơi vệ đường mà hát. Bọn xẩm, kẻ thì đánh trống gõ phách, kẻ thì kéo nhị, kẻ thì gảy đàn bầu, rồi đồng thanh mà hát, hoặc đi giọng nam, hoặc đi giọng bắc, ăn theo tiếng nhị tiếng đàn, nghe cũng vui tai. Đàn bà trẻ con người lớn xúm xít vào xem, kẻ thưởng dăm ba đồng kẽm, người cho một vài xu. Hễ người xem vãn rồi thì lại dắt nhau đi chỗ khác. Hát xẩm cũng là một nghề sinh nhai của bọn mù lòa, nghề ấy chính là một kế cứu kẻ tàn tật".
Từ cách diễn tả trên của cụ Phan Kế Bính, hát xẩm gồm nhiều người và nhiều nhạc cụ, tuy nhiên không thấy tài liệu Hán Nôm nào ghi lại chi tiết về loại hát này. Thời VBL chắc là đã có hoạt động này vì đã xuất hiện các từ liên hệ như xẩm, đàn cò ke, rŏan (xoan), sênh, trống.
2. Cách dùng ‘đàn cò ke, xẩm, xoan, tối mặt’ trong VBL
2.1 Đàn cò ke
  VBL trang 125
Định nghĩa của đàn cò ke là lyra rustica mendici (L) hàm ý cây đàn đơn giản (rustica) của người ăn mày (mendici). Định nghĩa này được chép lại y hệt trong tự điển của các LM Béhaine (1772/1773), sau đó là Taberd (1838) và Theurel (1877). Điều này cho thấy loại đàn này không đổi trong vòng hơn hai trăm năm từ thời VBL, ngoài ra đàn (tiếng Đàng Ngoài) còn thêm một dạng nữa là đờn ở Đàng Trong (tự điển Béhaine/Taberd). Tiếng La Tinh lyra có nghĩa là đàn hồ (~ hồ cầm - xem hình chụp bên dưới) và điều đáng chú ý là đàn cò ke  còn bảo lưu trong văn hóa người Mường, người VN gọi là đàn nhị  hay đàn cò.
 VBL trang 197
Hai trăm năm chục năm sau, đàn cò ke xuất hiện trong các tranh vẽ sưu tầm bởi Henri Oger (1908-1909) “Technique du peuple annamite” – một công trình nghiên cứu văn minh vật chất (nghệ nhân Việt vẽ/viết chữ Nôm). Tuy nhiên, tên của loại đàn này là nhị (~ đàn nhị) có thể vì do hai dây có âm vực thấp - cao (cách nhau ba nốt nhạc cũng như hai thanh điệu cò và ke).
Bà và Ba ghi bằng nốt nhạc bởi LM de Pina (theo các tác giả Gonçalo Fernandes/Carlos Assunção, sđd).
Không phải ngẫu nhiên mà tiếng Việt lại ghi hai âm ngang và huyền trong các cách nói hát tò te, ca ầu ơ (dân ca miền Nam), điệu hò lơ, ò e, kéo nhị cò cưa - đều tương ứng với tên gọi (thanh điệu) cò ke và đều mang tính cách tượng thanh (sound symbolism) dùng hai âm vực thấp và cao. Ngoài ra, phụ âm đầu thuộc loại tắc/gốc lưỡi k- cũng thường dùng để nhái lại âm thanh phát ra như kèn kẹt, ken két, kình kịch, còng cọc, cọt kẹt, cành cạch, cầm cập ... Do đó tên đàn là kò ke gợi một hình ảnh và âm thanh rất cụ thể.
Hai thanh điệu ma và mà cách nhau một nốt nhạc - theo LM Taberd (sđd, 1838) - phản ánh phần nào giọng nói ở Đàng Trong.
  Kéo nhị (chữ Nôm) ~ đờn cò, đờn nhị - A
  Khách mù kéo nhị (chữ Nôm)  - B
Khách mù kéo nhị: khách chỉ người Tàu (Đàng Ngoài). Tranh này cho thấy người TQ cũng có mặt trong các hoạt động âm nhạc đường phố như hát xẩm. Hiện nay (2021), ở Melbourne (Úc) thỉnh thoảng cũng có vài người TQ kéo đàn nhị với sắc phục truyền thống đi xin ăn trong các trung tâm thương mại có dân Á Châu ở - td. như Springvale, Footscray …v.v… Thường thì người mù, dù ở xã hội nào, kết hợp thành từng nhóm (phường) để dễ di chuyển và sinh sống - xem thêm mục 2.2. Điều đáng chú ý từ các bức tranh này là bức "phường xẩm đánh nhau" mà không thấy bức nào ghi lại "hát xẩm" - xem hình chụp bên dưới.
  Phường xẩm đánh nhau (chữ Nôm) - C
A, B, C trích từ các tranh vẽ sưu tầm bởi Henri Oger (1908-1909) “Technique du peuple annamite” – một công trình nghiên cứu văn minh vật chất (nghệ nhân Việt vẽ/viết chữ Nôm).
2.2 Xẩm, rŏan xẩm
Xẩm là mù nói một cách miệt thị, cũng như cách nói rŏan xẩm nghĩa là một phường mù (một đoàn người mù) - xem hình chụp trang 882 bên trên. Người viết/NCT dịch rŏan xẩm là phường mù vì dựa vào định nghĩa của adunatio/L là sự hợp lại thành một nhóm, một đoàn. Ngoài ra, cách diễn dịch này dựa vào định nghĩa của tiếng Bồ Đào Nha rancho là phường - xem hình chụp tự điển Việt Bồ chép tay từ VBL (cuối TK 18):
 
 VBL trang 611
VBL định nghĩa phường là một đoàn thể/nhóm người (societas sodalium/L), không dùng lại danh từ adunatio/L trong mục rŏan xẩm, khác với định nghĩa bằng tiếng Bồ thống nhất dùng rancho. Điều này có thể là do LM de Rhodes thêm tiếng La Tinh vào sau một tài liệu Việt Bồ đã có sẵn (td. tự điển của các LM người Bồ António Barbosa và Gaspar do Amaral).
Chữ rŏan rất lạ, chỉ xuất hiện trong VBL (không thấy trong PGTN và các tài liệu bằng chữ quốc ngữ sau này). Theo người viết/NCT, rŏan hay xoan cũng có nghĩa là mù và cách dùng rŏan xẩm hay xẩm xoan - loại từ ghép đẳng lập như tối xẩm hay xẩm tối, đui mù hay mù đui (để ý thứ tự chữ có thể hoán chuyển) -  thường chỉ một tập hợp hay số nhiều cũng như các cách dùng bạn hữu, sách vở, núi non ...v.v… Trong các bản chép tay của VBL, LM Philiphê Bỉnh hay đồng sự đã cho thấy khả năng roan là xoan (cuối TK 18) - xem hình chụp trang tự điển Việt Bồ bên dưới, đây cũng là lần đầu tiên chữ xoan (chữ quốc ngữ) xuất hiện qua dạng rŏan, trích lại từ tài liệu còn lưu trữ tại thư viện Tòa Thánh La Mã (Borg.tonch.23 trang 298).
 
Tương quan của hai phụ âm r- và s- hay x- (phụ âm xát/đầu lưỡi/vô thanh) khá rõ nét  vào thời VBL, so sánh các liên hệ sau đây trích từ VBL
Rét - dao rét (là dao sét trong tiếng Việt hiện đại)
Rịch - sịch (rình rịch ~ sình sịch)
Rỡ - sỡ (răn rỡ ~ sặc sỡ)
Rộ - sộ (răn rộ ~ sưng sộ/cả tiếng)
Rởn tóc - sởn tóc
Rẽ - xẽ (rẽ ra ~ xẽ ra)
Rột - sột (rôn rột ~ sôn sột)
Rỉ rỉ - sẽ sẽ
Rầu - sầu não (để ý rầu - sầu HV 愁) … Do đó ta có cơ sở để đưa ra đẳng thức sau
Roan = xoan (theo người viết/NCT).
…v.v…
Xoan có nghĩa là mù (Béhaine/Taberd/Theurel/Hue) và là một trong nhiều từ dùng để chỉ tình trạng bệnh/tật không nhìn thấy được như mù, đui, xẩm ... Để thấy rõ vấn đề hơn, hãy xem qua các cách dùng tương đương này vào thời VBL ra đời.
2.3 Mù là tối tăm - một hiện tượng thiên nhiên
Mù vào thời VBL có nghĩa là sương mù, mù mịt (tối mù). TVGT ghi vụ 霧 là 天氣下, 地不應 thiên khí hạ, địa bất ứng: tạm dịch/NCT hơi nước trên trời ở dưới mặt đất (sương xuống). Một số tài liệu cũng ghi lại định nghĩa từ Nhĩ Nhã, chương Thích Thiên (爾雅·釋天) rằng 地氣發,天不應 địa khí phát, thiên bất ứng - tạm dịch/NCT hơi (sương) ở đất ra, không thấy trên trời. Hai cách nói trên đều cùng một ý là vụ (~ mù, sương mù) xẩy ra ở trên mặt đất chứ không phải ở trên trời (có mây so với sương mù là một dạng ‘mây thấp’). Tương ứng với mù là từ HV vụ 霧 霧 雺 霚 (thanh mẫu 明 minh vận mẫu 虞 ngu, khứ thanh/bình thanh, hợp khẩu tam đẳng):
亡遇切,音務 vong ngộ thiết, âm vụ (TVGT, QV, LT, VH) TVGT ghi 从雨。瞀聲 tòng vũ, mậu thanh - cho thấy phụ âm đầu môi môi (bilabial) là một dạng âm cổ của vụ/xem bên dưới.
亡遇反 vong ngộ phản (LKTG)
兦遇切 vong ngộ thiết (LTCN 六書正譌)
武賦切 vũ phú thiết (NT, TTTH)
莫侯反 mạc hầu phản (NKVT 五經文字)
莫侯切 mạc hầu thiết (LT)
武公切 vũ công thiết (NT, TTTH)
莫紅切 mạc công thiết (QV) QV/TV ghi khứ thanh và bình thanh
謨蓬切,音蒙 mô bồng thiết, âm mông (TV, LT)
蒙弄切,音幪 mông lộng thiết, âm mông (TV, LT, KH)
莫鳳切,音夢 mạc phụng thiết, âm mộng (TV, LT, KH)
莫宋切 mạc tống thiết (LT)
TNAV ghi cùng vần/khứ thanh 魚模 ngư mô
CV ghi cùng vần/khứ thanh 務 鶩 婺 瞀 霧 騖 (vụ mậu)
亡暮切 vong mộ thiết (CV)
無暮切 vô mộ thiết (TVi)...v.v...
Giọng BK bây giờ là wù so với giọng Quảng Đông mou6 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] wu6 [梅县腔] wu5 [客语拼音字汇] vu4 [陆丰腔] mu5 [东莞腔] mu5 [宝安腔] mu5 [客英字典] vu5 [台湾四县腔] wu5, giọng Mân Nam/Đài Loan bū, tiếng Nhật mu bu và tiếng Hàn mu. Dựa vào các cách phiên thiết và phương ngữ/âm HV, một dạng âm cổ phục nguyên của vụ là *mɨo mà tiếng Việt còn bảo lưu qua dạng mù. Một dạng biến âm  của mù là mờ, như VBL trang 475 đã ghi nhận mờ mờ là mù mù (visus debilis/L ~ nhìn thấy không rõ) - đây là một kết quả trực tiếp khi có sương mù là mắt người không nhìn thấy rõ - kết quả của một hiện tượng thiên nhiên chứ không phải là hiện tượng sinh học (bẩm sinh)
 VBL trang 484
Tuy nhiên, từ TK 18 mù đã mở rộng nghĩa để chỉ trạng thái mắt người không nhìn thấy được (hiện tượng sinh học) cũng như sương mù (hiện tượng thiên nhiên). Hai nét nghĩa này đều đã hiện diện trong từ điển của LM Béhaine (1772/1773), đặc biệt trong bản chép tay VBL của LM philiphê Bỉnh, ông đã thêm nét nghĩa mù vào mục xẩm (nghĩa là mù vào thời VBL):
  Các tài liệu chép tay VBL cho thấy dạng roan
Bảng chép tay VBL của LM Philiphê Bỉnh và nguyên bản VBL trang 882  - để ý LM Bỉnh thêm "mù, idem" trong mục xẩm (cego/Bồ) tuy mục mù lại không có ghi nét nghĩa này.
 
Mù có một dạng chữ Nôm là 𩂟 (bộ vũ 雨 hợp với chữ mậu 戊 hài thanh) chỉ hiện tượng thiên nhiên, như trong các tác phẩm Nôm cổ như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập có câu
鐄鋪 𪽏菊欺霜𣳔 泊點岸𦰤課雪𩂟
Vàng phô luống (lảnh) cúc khi sương rụng. Bạc điểm ngàn lau thuở tuyết mù.
Hay trong Truyền Kỳ Mạn Lục
𤌋𩂟鎖𫈃花棠雙牟覩羣淡
Khói mù tỏa cuống hoa đường, song màu đỏ còn đượm.
Tới thời Lục Vân Tiên (giữa TK 19) thì mù cũng  chỉ trạng thái mắt không nhìn được
𨉟呢𤯭堛名伩 縁𪳼泊分𥊖𪾤世尼
Mình này sánh bực danh nhu (nho). Duyên chưa bạc phận đui mù thế ni.
Mù còn mở rộng nghĩa từ nghĩa nguyên thủy là bị che (sương mù) để cho ra các nghĩa khác:
Không thấy rõ - không thấy được (mù, đui mù) > không biết (mù chữ ~ không biết chữ)
Tam Thiên Tự và Ngũ Thiên Tự đều ghi 霧 𩂟 vụ - mù, điều này hỗ trợ cho tương quan vụ và mù như đã ghi nhận ở trên. Tuy nhiên, Ngũ Thiên Tự còn ghi thêm liên hệ 瞽 𪾤 cổ mù cho thấy tài liệu này xuất hiện sau Tam Thiên Tự với nét nghĩa mở rộng của mù vào khoảng cuối TK 18 - so với cách dùng xẩm trong hình chụp bảng từ vựng của LM Morrone bên dưới.
2.4 Tối mặt/tối mắt (VBL)
VBL ghi tối mặt là mù (đui mù), tương tự như cách dùng này thường gặp trong PGTN: thí dụ như trang 196 chụp lại bên dưới với ‘tối mặt’ dùng 7 lần, ‘người tối mặt khŏở đẻ’ ~ người bị mù thuở đẻ ~ người bị mù bẩm sinh, ‘bây giờ sáng’ ~ bây giờ nhìn/thấy được. Tối mặt xuất hiện hai lần ở mục mặt và tối, so với tối mắt xuất hiện một lần ở mục mắt (VBL).
 VBL trang 822
    PGTN trang 196
Có lẽ nên nhắc ở đây là vào thời VBL, để chỉ trạng thái mù (bệnh mù) thì có các cách dùng (a) tối mặt/tối mắt (b) tối tăm mặt mũi (c) thông manh (d) quáng mắt (e) đui (f) xẩm. Hai cách dùng e và f hàm ý khinh miệt . Tối mặt/mắt (a) có một dạng chữ Nôm là 最末 (tối mạt  HV) thường gặp vào thời VBL:"Khi ấy có người nào tối mặt (mạt) khuở đẻ ra" PGTN 195, "hiện xuống mà xua mù ấy đi" PGTN trang 158, "kẻ câm nói được, kẻ què thì đã, kẻ tối mặt xem được" KNLMPS trang 76, "mướn một người như kẻ tối mặt thật" ĐCGS quyển chi cửu/chi thập trang 69, "Ví bằng có ai tối mặt, què chân hay ra người lùn, khi sống lại chẳng còn tối mặt, cùng chẳng có tật gì" TCTGKM trang 87-88, "Nó phải tối mặt được hai năm ... kẻ khác tối mặt ra sáng" trang 39, CTTr tháng giêng, "Song le phải liệt, liền tối mặt" CTTr tháng mười …v.v… Cho tới thời Trương Vĩnh Ký, tối mắt vẫn còn nghĩa là đui/mù (aveugle/P - 1866), tuy nhiên đến thời Huỳnh Tịnh Của thì tối mắt đã thay đổi nghĩa, hàm ý ‘choáng con mắt, con mắt không thấy đàng’ ĐNQATV/1895, thời Gustav Hue thì cũng vậy (mauvais vue/P - 1937). 'Tối tăm mặt mũi' cũng chỉ tình trạng không thấy rõ, khác với nghĩa mù (đui) vào thời VBL. Cách viết mặt hay mắt dùng chữ mạt HV 末 đánh dấu giai đoạn đầu thường là kí âm (gần đúng) của cấu trúc chữ Nôm chỉ mặt hay mắt (cũng như chữ Hán trong giai đoạn hình thành), sau đó mới thêm bộ mục 目 hay bộ diện 面 cho rõ nghĩa hơn.
Nhìn rộng ra vào TK 17, tỉ số các cụm từ dùng mặt so với mắt là 14/2 (VBL) so với 50/20 = 5/2 vào thời Béhaine/Taberd hay khoảng hai TK sau. Điều này cho thấy mắt được dùng nhiều hơn so với mặt, giải thích được phần nào dạng tối mắt và dạng tối mặt. Một trường hợp thú vị khác là cách dùng "rắn mặt" (hay "rắn mày rắn mặt ") xuất hiện hai lần trong mục rắn và mặt (VBL), tuy nhiên đến cuối TK 18 và TK 19 thì đã đổi thành "rắn mắt" (Đàng Trong, theo Béhaine/Taberd, sđd). Đây là hiện tượng đồng hóa thanh điệu trong tiếng Việt, cũng như dạng "tối mắt", sự khác biệt trong ngôn ngữ của Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng đáng quan tâm nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này.
3. Xẩm/xoan trong tục ngữ ca dao và chữ Nôm
3.1 Các cách gọi xẩm và xoan từng hiện diện trong tục ngữ ca dao VN như "Xẩm vào cuội ra, xẩm vớ được gậy, xẩm dắt thầy bói, trơ như xẩm cầm gậy" hay
Thà rằng lấy chú xẩm xoan
Công nợ chẳng có hát tràn cung mây
...
Tối trời bắt xẩm trông mây
Xẩm rằng có thấy sao nào xẩm đui ...v.v...
Tục ngữ ca dao cũng cho biết xẩm là người bị đui và xẩm xoan liên hệ đến hoạt động văn nghệ như hát xướng. Kí ức tập thể trên cũng phù hợp với các dữ kiện từ VBL. Cho đến đầu TK 19, xẩm vẫn có nghĩa là mù (cœcus/L) - xem bảng từ vựng của LM Morrone bên dưới
     Tiếng La Tinh cæcus nghĩa là đui (mù)
Trích từ bảng từ vựng  “Lexicon Cochin-sinense Latinum” của LM  Josepho Maria Morrone đăng trong cuốn “A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing” tác giả Peter Stephen Du Ponceau (1838).
3.2 Xẩm có một dạng chữ Nôm là bộ mục 目 hợp với chữ thẩm 審, hay bộ mục hợp với chữ thẩm viết tắt (Béhaine 1772/1773, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị 1895) hàm ý tình trạng không thấy rõ (mù) của con mắt (bộ mục). Xẩm có các dạng chữ Nôm khác như là sấm/đam  HV 眈 (theo Taberd 1838) hay bộ nhân亻hợp với chữ thẩm 審 trích từ “Nam Giao Kim Lý Hạng Ca Dao Chú Giải”/1946-1956 chỉ người (bộ nhân) có tật mù - xem hình chụp  bên dưới
 
Cách đọc xẩm xoan của tài liệu viết tay trên cũng giống như cách ghi nhận trong Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, 1931). "Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải" (Nguyễn Quang Hồng, sđd) thì đọc hơi khác "Sao bằng lấy chú xẩm xoang. Công nợ chẳng có, hát tràn cung mây" (Lý hạng B, 159b), xoang viết chữ Nôm là khang/xoang HV 腔.
Xoan có một dạng chữ Nôm là xuân HV 春 (Béhaine/Taberd, Lý hạng ca dao 36b, Nhật dụng thường đàm 49a) nhưng chỉ có Béhaine/Taberd (1772/1773-1838) ghi nét nghĩa mù (đui) so với các nét nghĩa khác như trẻ trung, loại cây, loại gạo (tám xoan). Tuy nhiên, từ bản chép tay "Nam Giao Kim Lý Hạng Ca Dao Chú Giải" thì xoan có một dạng chữ Nôm là bộ nhân 亻hợp với chữ xuân 春 hàm ý người có tật mù/người mù.
Tóm lại, tự điển VBL đã cho những cách dùng như đàn cò ke của người mù, xẩm là mù dùng với tính cách miệt thị cũng như đui, xoan (rŏan) hay xoan xẩm là phường xẩm, đánh sênh, đánh trống. Điều này cho thấy khả năng rất lớn là hát xẩm từng hiện diện vào TK 17 ở Việt Nam . Đọc kỹ VBL cho ta các thông tin đặc biệt về phong tục VN vào TK 17 như bẻ tiền bẻ đũa (li hôn), cúng tế khi có nhật hay nguyệt thực (cứu mặt trời, mặt trăng) và đàn cò ke của người mù (hát xẩm)… Ngoài ra, mù là một hiện tượng thiên nhiên và đã mở rộng nghĩa để chỉ đui (hiện tượng sinh học) cho đến ngày nay, thí dụ như mù chữ là thấy chữ nhưng không đọc được chứ không phải là bị mù mà không đọc được. Ngược lại với tối mặt/mắt (đui vào thời VBL) là sáng, cũng mở rộng nghĩa từ hiện tượng thiên nhiên/cụ thể đến con người và trừu tượng: sáng dạ, sáng trí ... Quá trình thay đổi nghĩa này còn thấy cho các chữ xẩm và tối mắt (tối mày tối mặt), nghĩa là đui vào TK 17 nhưng chỉ có nghĩa là không thấy rõ một cách tạm thời trong tiếng Việt hiện đại. Một trường hợp khác là mực tàu  chỉ dụng cụ kẻ đường thẳng (theo VBL) chứ không phải là mực của TQ (người Tàu) theo cách hiểu hiện đại. Hi vọng người đọc thấy thích thú với bài viết nhỏ này và tìm hiểu sâu xa hơn về tiếng Việt cùng những khám phá thú vị hơn nữa .

5. Tài liệu tham khảo chính

1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999).
2) Phan Kế Bính (1915) "Việt Nam phong tục" tái bản nhiều lần - NXB Văn Học (2005) - có thể đọc trên mạng như trang http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Viet%20Nam%20Phong%20Tuc%20(Phan%20Ke%20Binh).pdf…v.v...
3) Philiphê Bỉnh (1822) "Sách Sổ Sang Chép Các Việc" NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968.
(1822) "Phép Giảng Tám Ngày", "Truyện nước Anam Đàng trong quyển nhị" … Các tài liệu viết tay của chính tác giả còn lưu trữ trong thư viện tòa thánh La Mã.
4) Đoàn Trung Còn (1959) "Tam Thiên Tự" Trí Đức Tòng Thư in kỳ đầu (hai quyển), NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản lần thứ năm có sửa chữa và bổ sung (Thành Phố HCM, 2003).
5) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon).
6) Gonçalo Fernandes/Carlos Assunção (2017) "First codification of Vietnamese by 17th-century missionaries: the description of tones and the influence of Portuguese on Vietnamese orthography" đăng trong tạp chí Histoire Épistémologie Langage/2017: 39-1 pp. 155-176.
7) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội).
8) Giêrônimô Maiorica (thế kỷ XVII) "Mùa Ăn Chay Cả", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển thượng", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển trung", "Đức Chúa Giê-Su - Quyển chi cửu & Quyển chi thập" (ĐCGS), "Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội Kinh", “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông” (TCTGKM), "Kinh Những Ngày Lễ Phục Sinh - Quyển thứ ba", “Các Thánh Truyện” (CTTr) từ tháng giêng đến tháng mười hai. Sách lưu hành nội bộ (năm xuất bản 2002/2003, LM Nguyễn Hưng).
9) Ngũ Thiên Tự (2016) Vũ Văn Kính/Khổng Đức biên soạn - tái bản nhiều lần - NXB Đà Nẵng, trình bày theo dạng Việt – Hán - Nôm. Có thể xem tài liệu này (NXB Văn Hóa Thông Tin, 2008) trên trang mạng như https://nhatbook.com/2018/02/13/ngu-thien-tu/ …v.v…
10) Trần Việt Ngữ (2002) "Hát xẩm" NXB Âm Nhạc (Hà Nội) - có thể đọc trên trang này chẳng hạn https://nhatbook.com/2018/01/22/hat-xam/ …v.v…
11) Henri Oger (1908/1909) “Technique du peuple annamite” có thể xem trên mạng như trang này chẳng hạn http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Technique%20du%20Peuple%20Annamite%20(Henri%20Oger)%201909.pdf …v.v…
12) Vũ Ngọc Phan (1971) "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" tái bản nhiều lần, NXB Văn Học (2005) -có thể xem trên mạng như trang http://vannghiep.vn/wp-content/uploads/2016/02/T%E1%BB%A5c-ng%E1%BB%AF-ca-dao-d%C3%A2n-ca-Vi%E1%BB%87t-Nam-V%C5%A9-Ng%E1%BB%8Dc-Phan-bi%C3%AAn-so%E1%BA%A1n.pdf …v.v…
13) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên.
(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).
“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).
"Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).
14) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale).
15) J. S. Theurel (1877) "Dictionarum Anamitico-Latinum" LM Theurel ghi nhận LM Taberd khởi thảo và ông cố tình ‘bổ sung’ ngay trong cách giới thiệu trang đầu, (td. hàm ý các cách dùng Đàng Ngoài khác với Đàng Trong/NCT) - Ninh Phú (Đàng Ngoài).
16) Nguyễn Cung Thông (2018) "Hiện tượng đồng hoá âm thanh" có thể xem loạt bài này trên trang này chẳng hạn http://chimvie3.free.fr/81/ncthong_DongHoaAmThanh81.htm
17) Pierre-Gabriel Vallot (1898) "Dictionnaire franco-tonkinois illustré" NXB F.H. Schneider (Hà Nội). Cùng tác giả  (1905) "Grammaire Annamite à l’Usage Des Français de l’Annam Et Du Tonkin" Imprimeur-Éditeur F. H. Schneider, HaNoi.
Phụ Trương
A. Mù là âm cổ của vụ: tương tự như mùi là âm cổ của vị 未. Tham khảo bài "Nguồn gốc Việt Nam của tên gọi 12 con giáp - mùi vị *mjei dê (phần 15)" trong loạt bài "Nguồn gốc Việt Nam của tên gọi 12 con giáp" cùng tác giả/NCT. Thí dụ như đọc bài trên trên mạng này chẳng hạn http://www.dunglac.info/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=81&ia=7352
Có thể phục nguyên dạng âm cổ phần nào dựa vào các tài liệu Hán cổ như Thuyết Văn Giải Tự, Thích Danh ... Thí dụ như chữ vụ 霿 thì TVGT ghi 从雨瞀聲 tòng vũ mậu thanh (âm mậu), chữ vị 未 thì Thích Danh viết 未, 昧也 vị, muội dã ...v.v...
B. Thanh ngang và huyền cách nhau hai nốt nhạc - trích từ “Lexicon Cochin-sinense Latinum” của LM  Josepho Maria Morrone - có thể đọc tài liệu này trên mạng như https://archive.org/details/dissertationnatu00duporich/page/109/mode/2up ...v.v...
 
Một điều đáng nhắc ở đây là bảng từ vựng/BTV của LM Morrone phản ánh ngôn ngữ Đàng Ngoài, khác với tựa đề của tài liệu này là "Lexicon Cochin-sinense Latinum" (từ vựng tiếng Đàng Trong - La Tinh). Có lẽ là người chép lại BTV đã nhầm lẫn hay vì tài liệu dùng ở Đàng Trong và giao cho trung úy hải quân Mỹ John White ở Đàng Trong (Sài Gòn) trước khi ông trở về Mỹ năm 1820. Trong BTV có 18 loại từ chỉ động vật dùng cái như cái ếch, cái sóc, cái nhím, cái dế, cái cò, cái gián ... BTV cũng ghi một số cách dùng ở Đàng Ngoài như bu (lồng tre làm chuồng gà), chóp bu, chín mọng (rất chín), gianh (tranh, nhà tranh), nẫm rượu, địt (đánh rắm) ...v.v…
C. LM de Rhodes cũng ghi nhận sự khác biệt của thanh nhuyền (dò ~ nốt đồ) và thanh ngang pha (~ nốt pha) là là cách nhau hai nốt nhạc (giọng Tonkin ~ tiếng Đàng Ngoài) - xem hình chụp đoạn liên hệ trong BBC
 
Nguyễn Cung Thông
Nghiên cứu tiếng Việt độc lập (Melbourne, Úc) - nguyencungthong@yahoo.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
TỔ QUỐC TRÊN HẾT
Covid
Luong truy cap
MỜI QUẢNG CÁO
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập28
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm27
  • Hôm nay9,489
  • Tháng hiện tại284,448
  • Tổng lượt truy cập31,496,769
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây