Danh nhân tuổi Sửu Việt Nam

Chủ nhật - 14/02/2021 19:30
Trong hàng ngàn, hàng vạn ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến dân tộc có các danh nhân lịch sử - văn hóa tuổi Sửu. Ngày xuân, nhắc lại tên tuổi các vị âu cũng là cách để chúng ta tưởng nhớ tiền nhân, tự hào về ông cha và giữ cho mạch ngầm văn hiến trong dòng chảy muôn đời của dân tộc trường tồn.
Dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, đã sản sinh biết bao người con ưu tú làm rạng danh đất nước.

Trong hàng ngàn, hàng vạn ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến dân tộc có các danh nhân lịch sử - văn hóa tuổi Sửu. Ngày xuân, nhắc lại tên tuổi các vị âu cũng là cách để chúng ta tưởng nhớ tiền nhân, tự hào về ông cha và giữ cho mạch ngầm văn hiến trong dòng chảy muôn đời của dân tộc trường tồn.


Ảnh chụp bài đăng số Xuân Tân Sửu trên Chư Yang Sin

Lê Đại Hành (941 – 1005)

Lê Đại Hành (húy là Lê Hoàn) sinh ngày 15/7 năm Tân Sửu 941.

Ông là Thập đạo tướng quân dưới triều vua Đinh Tiên Hoàng. Khi Đinh Tiên Hoàng mất, ông làm Nhiếp chính, xưng là Phó vương, nắm đại quyền triều đình.

Năm 980, trước họa xâm lăng của nhà Tống, Thái hậu Dương Vân Nga (tức mẹ vua Đinh Toàn) trao long cổn cho Phó vương Lê Đại Hành, mời lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc (980), khai mở nhà Tiền Lê.

Lê Đại Hành là ông vua có tài, 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, được nhân dân ca ngợi và sử sách đánh giá là một minh quân.

Trần Quang Khải (1241-1294)

Trần Quang Khải sinh tháng 10 năm Tân Sửu 1241, là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông.

Năm 1258, Trần Thánh Tông phong cho ông tước Chiêu Minh Đại vương, năm 1261 phong làm Thái úy, năm 1265 phong làm Thượng tướng.

Ông được Trần Thánh Tông khen là người bề tôi trung hiếu hiếm có. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi nhận: "Công lao thu phục được nước, ông đứng thứ nhất".

Ông là người học rộng, giỏi thơ phú với bài thơ "Tụng giá hoàn kinh sư" nổi tiếng được viết sau trận thắng Chương Dương độ trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 3, 1285.

Nguyễn Trung Ngạn (1289–1370)

Ông sinh năm Kỷ Sửu 1289, quê làng Thổ Hoàng, Ân Thi, Hưng Yên; đỗ Hoàng giáp năm 15 tuổi (1304), cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi.

Ông là một nhà chính trị, một đại thần được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần". Ông từng được phong các chức, tước: Đại hành khiển, Thượng thư Hữu bật, Đại học sĩ, Trụ Quốc, Thân Quốc công.

Ông là người có công trong việc biên soạn bộ “Hình thư” và “Hoàng triều đại điển”; là tác giả “Giới Hiên thi tập” với nhiều bài thơ, bài văn có giá trị.

Trần Nguyên Đán (1325 – 1390)

Ông sinh năm Ất Sửu 1325, là danh sĩ nổi tiếng đời Trần. Ông là chắt nội của Trần Quang Khải và là ông ngoại của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Làm quan tới Tư đồ dưới thời các vua Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và Trần Phế Đế, tước Chương Túc quốc thượng hầu.

Ông là “cây cột chống trời” cuối cùng của nhà Trần, nên khi ông mất đi triều đình ngày càng nghiêng đổ và chỉ chưa đầy 10 năm sau nhà Trần đã bị Hồ Quý Ly cướp ngôi.

Lê Lợi (1385-1433)

Ông sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (10/9/1385) tại quê mẹ làng Chủ Sơn (Thủy Chú), huyện Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa; là con trai út của Hào trưởng Lê Khoán, người làng Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương, chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân Minh (Trung Quốc).

Sau khi đánh thắng quân xâm lược nhà Minh, ngày 14 tháng 4 năm 1428 Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi vua, hiệu là Thái Tổ Cao Hoàng Đế còn gọi là Lê Thái Tổ, đặt tên nước là Đại Việt, lập ra nhà Hậu Lê, vương triều dài nhất trong lịch sử Việt Nam.

Đặng Đình Tướng (1649-1736)

Ông sinh năm Kỷ Sửu 1649, quê Chương Đức, nay là Chương Mỹ, Hà Nội.

Thuở nhỏ Đặng Đình Tướng học hành rất thông minh. Năm 20 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương. Năm sau đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ. Năm 1697 được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh.

Sau khi đi sứ về ông được thăng chức Bồi tụng (đứng đầu hàng quan văn), rồi Thái phó (đứng đầu hàng quan võ).

Ông là một vị quan tài ba và đức độ. Sau khi về nghỉ được tôn lên hàng Quốc lão.

Tự Đức (1829-1883)

Ông tên là Nguyễn Hồng Nhậm, huý là Thì, sinh năm Kỷ Sửu 1829, con thứ hai của vua Thiệu Trị. Năm 1847 lên ngôi vua lấy niên hiệu là Tự Đức, giữa lúc nước nhà đang đứng trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.

Ông là người uyên bác, cần kiệm, chăm chỉ trong chức vụ và có nhiều đóng góp cho nền văn hoá nước nhà.

Nguyễn Văn Tố (1889-1947)

Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm Kỷ Sửu 1889, quê Hà Đông - Hà Nội, là học giả nổi tiếng làm việc nhiều năm tại Trường Viễn Đông Bác cổ; từng làm Hội trưởng Hội Trí Tri, Hội truyền bá chữ Quốc ngữ trước năm 1945.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Quốc vụ khanh trong Chính phủ Liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946).

Ngày 7 tháng 10 năm 1947, trong một cuộc tấn công của quân đội Pháp vào chiến khu Việt Bắc, ông bị bắt, bị tra khảo và bị giết tại Bắc Kạn.

Trần Huy Liệu (1901-1969)

Ông sinh ngày 5 tháng 11 năm Tân Sửu 1901, quê ở làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ông từng bị thực dân Pháp bắt, tù đày ở Côn Đảo, Sơn La.

Tháng 8 năm 1945, ông dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào và được bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945 ông thay mặt Chính phủ cùng với Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào kinh đô Huế chấp nhận sự thoái vị và nhận ấn tín của vua Bảo Đại.

Ông từng là Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa dân chủ Đức.

Trịnh Đình Thảo (1901-1986)

Ông sinh năm Tân Sửu 1901, quê ở làng Chính Kinh, Nhân Mục, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Ông là nhân sỹ yêu nước, từng là Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (1968-1977); Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976); Đại biểu Quốc hội khoá VI (1976-1981); Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977).

Phùng Chí Kiên (1901-1941)

Ông tên khai sinh là Nguyễn Vỹ, sinh năm Tân Sửu 1901, tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; là vị tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 10 năm 1926, ông cùng một số đồng chí sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức rồi vào học Trường Quân sự Hoàng Phố.

Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 2 năm 1931, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản.

Năm 1935, ông được Đại hội I của Đảng bầu vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài.

Tháng 5 năm 1941, ông tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

Ngày 21 tháng 8 năm 1941, đơn vị Cứu quốc quân do ông chỉ huy bị phục kích tại xã Bằng Đức trên đường đi Cao Bằng. Ông bị địch bắt và hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Ngày 23-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 89-SL truy phong ông cấp tướng. Đây là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Nhà nước ta.

Tháng 11-2020
Nguyễn Duy Xuân (st-bs)
Đăng TC Chư Yang Sin số Xuân Tân Sửu, 2021

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

TỔ QUỐC TRÊN HẾT
50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Luong truy cap
Covid
MỜI QUẢNG CÁO
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập35
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm32
  • Hôm nay10,449
  • Tháng hiện tại353,209
  • Tổng lượt truy cập31,565,530
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây