Từ lễ hội Ná Nhèm nghĩ về “chuyện ấy”

Thứ ba - 24/01/2017 05:20
- Hồi đầu xuân năm ngoái, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi được nhìn thấy trong lễ hội Ná Nhèm ở Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, họ rước bức tượng tàng thinh (của quý người đàn ông) một cách công khai. Bức tượng gần như nguyên xi, dựng cả cụm dương vật, bao gồm đủ bộ “súng ống và lựu đạn”. Tác phẩm được miêu tả chân thực đến từng chi tiết như vốn có. Thật kinh hãi! Bức tượng đang trong tư thế thượng phong hùng dũng. Nó cứ thế nghễu nghện đi giữa dòng người ồn ào tấp nập ngược xuôi. Bức tượng đi đến đâu lại được mọi người hớn hở vui vẻ chào đón như một linh vật cầu phúc.
Điều này, đã khiến cho chúng tôi giật mình vì nó lạ lẫm quá, kì quặc quá, nhưng cũng có phần thích thú vì muốn tìm hiểu xem họ rước nhằm mục đích gì. Nghe nói thì đã nhiều, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi được chứng kiến. Người Tày chúng tôi, chưa bao giờ thấy xuất hiện sự kiện như thế này. Từ già chí trẻ chúng tôi chưa bao giờ dám mở miệng nói thẳng về của quý người đàn ông và đàn bà.

Kết quả hình ảnh cho Từ lễ hội Ná Nhèm nghĩ về “chuyện ấy”
Kiệu rước tàng thinh từ làng ra miếu Xa Vùn (Ảnh: Internet)

Có lẽ cũng từ lâu, người Tày cũng như các dân tộc khác, cha ông chúng tôi chịu ảnh hưởng tư tưởng và lối sống Nho giáo một cách sâu sắc. Cả một đời người ai ai cũng phải đi theo khuôn thước. Chưa kể đúng sai hay dở, nhưng ở xã hội người Tày khi xưa hầu như không có chuyện quan hệ ngoài luồng, ít phải đưa nhau ra tòa kiện cáo, đến chốn đông người không lo mất cắp, đàn bà con gái đi rừng một mình không lo cướp giật, hãm hiếp. Trong chuyện tình cảm riêng tư giữa nam và nữ, thường được nghe câu cửa miệng mà các cụ dạy Nam nữ thụ thụ bất tương thân. Hai chữ thụ thụ đồng âm nhưng có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Một chữ thụ có bộ thủ là trao cho, chuyển cho. Còn một chữ thụ là nhận lấy, cầm lấy, hấp thụ, hưởng thụ.

Đặc biệt với Đạo giáo, mức độ ảnh hưởng của nó sâu đậm trong đời sống tinh thần xã hội người Tày. Ai cũng biết Lão Tử là cha đẻ của trước tác “Đạo đức kinh”. Ông đã để lại trên đời này một triết lý “vô vi” cực kỳ uyển chuyển. Hễ động đến bất cứ việc gì lớn bé to nhỏ các thầy mo thầy tào người Tày đều cung thỉnh Thái Thượng Lão Quân (tên tôn kính của Lão Tử) cấp cấp như luật lệnh, xuống trần gian kiểm chứng việc đời. Bất kể làm việc gì dù to nhỏ lớn bé đều bắt buộc thực hiện “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo…”.

Có lẽ vì thế, trong quan niệm tính dục, càng phải thuận theo đạo. Đạo này là đạo âm dương. Đạo giao hòa trời đất sinh sôi nảy nở con người và vạn vật. Con người sinh ra không chỉ thuận theo tự nhiên, mà còn phải nói lời chân, làm điều chân, cuối cùng làm chân nhân. Nên việc sinh nở con người càng phải khắt khe. Khắt khe đến mức biến nó trở thành tư tưởng cấm dục.

Xin hãy ngắm trang phục người phụ nữ Tày. Từ đầu đến chân chỉ một màu đen tím than, không có trang trí hoa văn. Người ta gọi là màu chàm. Trang phục Tày kiểu dáng cũng đơn giản. Áo dài năm thân xẻ nách, có dải thắt lưng bằng vải chàm hay đũi buông chùng đằng sau, để mỗi khi chị em bước đi tạo dáng mềm mại. Tà áo bay bay mùi thơm của cây chàm. Mùi chàm thơm tự nó bộc lộ sự khiêm nhường. Khi chị em mặc bộ trang phục này, toàn thân sẽ trông “kín cổng cao tường”. Trang phục phụ nữ Tày không tạo đường cong hấp dẫn như áo cóm của người con gái Thái. Không gợi mở phần ngực và eo thon như áo dài người Kinh. Không hở lưng hở rốn như trang phục các cô gái Mông đen. Nhìn thế cũng đủ biết, trang phục Tày hoàn toàn không gợi lên sự ham muốn thèm khát trong con mắt người đời.

Trong quan hệ nam nữ, người Tày không thông thoáng như các tộc người ở bên châu Âu, châu Phi… Ở đấy, người ta tự do trong quan hệ tình dục. Họ quan niệm bình thường như trong cuộc sống, đói thì ăn, khát thì uống, thích thì yêu. Người anh em dân tộc Thái ở Tây Bắc có tục chọc sàn, trai gái tự do tìm hiểu, có thể “ngủ giao lưu” mà không bị cấm đoán. Người Dao, người Mường còn có tục ngủ thăm. Người con trai được phép cạy cửa vào tận buồng người con gái để tỏ tình. Phong tục họ cho rằng việc nam nữ chung đụng giường chiếu là hợp với quy luật sinh tồn của trời đất. Nhưng với người con trai Tày muốn trao gửi tình cảm với người con gái, họ không được phép tiếp xúc bằng tay. Da thịt chạm da thịt là điều tối kị. Bởi theo các cụ, làm như thế ắt nó sẽ gợi dục. Vì vậy, họ luôn nhắc nhớ câu cửa miệng người già “nam nữ thụ thụ bất tương thân” là vì thế. Người cho và người nhận đều phải qua một vùng đệm làm khâu trung gian. Ví dụ như đặt bông hoa lên khăn mùi soa đem tặng người yêu, đặt chùm quả trong lòng chiếc nón đem dâng người thương, bưng khay nước lên ngang trán mời chồng …

Nhớ cái thời Mạnh Tử từng kể cho học trò rằng khi em chồng nhìn thấy chị dâu của mình sắp chìm nghỉm, mà không dám kéo lên, sợ mang tiếng thụ thụ. Ngay cả việc sinh hoạt vợ chồng cũng không được tự nhiên thoải mái. Sau ngày cưới, đêm đêm chồng vẫn nằm một buồng. Vợ nằm một buồng. Mỗi người mỗi giường, chỉ cách nhau tấm liếp ngăn. Khi nào phát sinh có nhu cầu làm tình, cả anh lẫn ả cần phải nén lòng, chờ cho mọi người trong nhà ngủ say tít mít, rồi mới dùng ngón tay ám hiệu. Thấy tấm liếp rung lên nhè nhẹ, rồi mới rón rén lẻn sang buồng vợ làm chuyện ấy. Xong xuôi, vợ chồng nhà kia phải vội vàng xóa hết mọi dấu vết, làm như đêm qua không hề có chuyện ấy. Nếu cái điều sung sướng này mà vỡ lở ra, là ngay trong hôm sau “cơm không ngọt canh không lành”. Chuyện trong nhà cứ thế lừng lững toang hoác xuống cầu thang bước ra ngoài ngõ. Người làng người xã kháo nhau rằng vợ chồng nhà kia sao mà máu thế. Mới cưới còn chưa hả hết rượu mà đã hùng hục như trâu húc mả… Chúng mày không nhịn thêm vài ngày cho rượu cưới hả hết hơi đi rồi hãy yêu có được không.

Ngày trước mẹ tôi còn tại thế, bà thường dạy con cái cháu chắt trong nhà rằng: “Bao giờ nhà người ta nộp đủ mười lợn chín thịt thì mới được đụng đến gấu áo nghe chưa”. Nghĩa là dù rằng chúng mày đã tổ chức xong đám cưới, nhưng tay anh chồng chỉ mới được đụng đến vòng ngoài người vợ. Còn xa xăm lăm lắm tay anh chồng mới được chạm đến thiên đường ân ái. Chuyện này còn kéo dài cho đến tận bây giờ ở thế kỉ 21 này, nơi những vùng xa vùng sâu, nơi cách phố huyện đến nửa ngày đường đi bộ, vẫn còn tiếp diễn cảnh bi ai khổ cực như thế.

Nhìn sang anh em người Kinh dưới xuôi, họ có lễ hội Trò trám hay tình phuộc ở Phú Thọ. Đây là lễ hội phồn thực có từ xa xưa. Lễ hội nõ nường ở Hà Tĩnh. Lễ hội ông Đùng bà Đà ở Thái Bình… Đặc biệt có hình nam nữ đang giao cấu trên thạp đồng Đào Thịnh. Ngay cả những hình tượng tưởng chừng rất xa xôi như chùa Một Cột (dương) trong cái hồ vuông (âm), tháp Bút (dương) và đài Nghiên (âm) ở cổng đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê) soi mình xuống hồ vuông (âm) Thiên Quang Tỉnh trong Văn Miếu... cũng đều liên quan tới tín ngưỡng phồn thực. Người Chăm có tục thờ sinh thực khí của nam và nữ. Đồng bào Tây Nguyên có tượng nhà mồ, họ miêu tả trực diện các bộ phận sinh dục nam và nữ đang thực hiện hành vi giao cấu. Người Nhật còn tạo dáng que kem giống y hệt “của quý” của người đàn ông bày bán và họ cầm ăn công khai... Vậy mà tại sao dân tộc Tày lại có tư tưởng cấm dục suốt chiều dài lịch sử.

Nhưng ngày nay không ai bảo ai, vợ chồng người Tày nằm chung giường không còn là chuyện hiếm. Nhất là những cặp vợ chồng thoát ly, đã và đang sinh sống tại các thành phố thị xã. Những chuyện xầm xì về cái sự “sung sướng” rồi cũng phai nhạt, rồi tạnh hẳn. Văn chương phim ảnh ngày nay…cũng dám miêu tả xa xa, gần gần “làm chuyện ấy” rồi. Người đọc phần đông là thanh niên đã thực hành sống thử như thế nào. Chuyện “ăn cơm trước kẻng” đã không còn là chuyện lạ. Có điều các cơ quan chuyên môn cần phải hướng dẫn để các cặp yêu nhau thực thi sao cho tránh khỏi lây lan những căn bệnh xã hội.

Tàng thinh là con đường sinh nở. Bất kể vua chúa hay dân thường đều từ con đường này mà ra. Người là chủ nhân ông của non sông đất nước. Người là tinh hoa của vũ trụ. Người là chủ thể sáng tạo mọi sản phẩm văn hóa để đem lại một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Vậy tàng thinh phối cùng với mặt nguyệt, làm nơi phát sinh ra loài người. Hãy bỏ qua yếu tố dâm tục tầm thường mà nhìn thật sâu vào đời sống tâm linh. Chúng ta bắt gặp hình tượng Tàng thinh trong chữ Tổ trên ban thờ của mỗi gia đình người Việt Nam. Tổ là Tổ tiên. Tổ là Tổ quốc. Chữ Tổ gồm chữ Thị đi với chữ Thả. Chữ Thả là gốc của chữ Tổ. Hình tượng chữ thả chính là tàng thinh - Hình ảnh sinh thực khí của người đàn ông. Vậy, lễ hội Ná Nhèm đích thị là lễ hội khuyến sinh, cầu mưa thuận gió hòa để cho muôn loài sinh sôi nẩy nở. Ông cha người Kinh thường nói “mỗi mặt người bằng mười mặt của” ai ai cũng mong muốn có “con đàn cháu đống”. Ông cha người Tày xa xưa cũng tương tự: “Mì gần lẻ mì cúa” (có người là có của) hay “Lai gần liệng lai gần lẻ lỏoc, gần đóoc liệng gần tỏoc lẻ thai” (nhiều người nuôi nhiều người thì sống, một mình nuôi một người là chết). Vậy nên, những gì sinh thành con người cần phải được tôn vinh một cách xác thực.

Y Phương
Nguồn http://vannghethainguyen.vn/ctview/id/7697

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây