Trao đổi: "NÀNG THƠ" Ở ĐÂU?

Thứ tư - 09/06/2021 04:01
Xưa nay đã có nhiều người bàn luận về câu hỏi THẾ NÀO LÀ THƠ, Thơ khác ca vè, văn vần như thế nào. Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cũng đã có những phân tích khá tỷ mỷ, sâu sắc trong cuốn tiểu luận: “Đi tìm mật mã thơ” nhưng tôi vẫn thấy chưa thỏa mãn lắm vì ông cho rằng thấy gì viết ấy thì chỉ được ca vè, văn vần. Nên tôi vẫn muốn bàn thêm về vấn đề này theo cách hiểu của riêng mình để chia sẻ cùng các bạn yêu thơ.
1/ THẾ NÀO LÀ THƠ, THẾ NÀO LÀ VĂN VẦN, CA VÈ?

Nói cho ngắn gọn và dễ hiểu nhất khi đọc những dòng nhà thơ viết ra (dù là kể thực) mà ta suy luận ra thêm được một hay nhiều tầng ý nghĩa khác (nghĩa bóng) ngoài nghĩa đen thì đó đích thị là thơ, và ngược lại người đọc không suy luận ra được tầng ý nghĩa nào nữa thì đó đích thị là văn vần, ca vè.

Vậy Nàng Thơ ở đâu? Các bạn hãy cùng tôi khám phá cái động Thiên Thai lung linh kỳ ảo của ngôn từ, nơi mà nàng thường ngự trị nhé.

a/  Sự thăng hoa của cảm xúc cộng với các thủ pháp nghệ thuật đã dắt Nàng Thơ theo ngòi bút hiện hình lên trang giấy.

Ví dụ cặp lục bát sau chỉ đáng là ca vè vì tác giả chỉ nói toàn những điều ai cũng biết. Viết như thế đọc giả không cần đến nhà thơ:

Chị mang mạ cấy ra đồng
Lúa lên đẻ nhánh trổ bông hạt vàng.

Nếu cũng thông điệp ấy tác giả sửa lại là:

Tình yêu chị cấy ra đồng
Lúa lên nỗi nhớ niềm mong nảy mầm.

Cặp lục bát này đã vượt qua ngưỡng cửa ca vè. Nói như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm là “cá chép đã vượt được Vũ Môn, hóa rồng rồi”. Bóng dáng nhân vật trữ tình là “chị” ở đây cũng đem mạ ra đồng cấy đấy nhưng chị cấy nó bằng tình yêu, bằng nỗi nhớ niềm mong nữa (nghĩa bóng).

Ta hãy xét thêm vài trường hợp cụ thể sau:

Để nói về cái đồng hồ, thời tôi còn đi học, ở sách tập đọc lớp 2 có bài như sau: … tích tắc… tích tắc…/ kim ngắn chỉ giờ/ kim dài chỉ phút/ Thời gian vùn vụt? đi tựa tên bay…

Khi nhìn cái đồng hồ tác giả chỉ nói đến cái mình nghe được là âm thanh  tích tắc…, nhìn được: kim ngắn, kim dài.. và cảm được: Thời gian đi nhanh lắm. Đây là những điều ai cũng có thể nghe được, nhìn thấy được, cảm nhận được. nó chỉ là văn vần. Người đọc không tìm kiếm được gì đằng sau những câu kể lể ấy.

Nhưng cũng nói về cái đồng hồ thì TA-GO nhà thơ lớn của Ấn Độ viết:

Ba thanh đoản kiếm không  tư lự
Chém mọi thời gian, mọi kiếp người

TA GO đã nói lên sự chiêm nghiệm của mình về sự vĩ đại của thời gian. Đây là câu thơ rất hay. Người đọc có thể suy luận ra nhiều nghĩa:

- Gía trị của thời gian, quyền năng rất đáng sợ của thời gian, nhắc nhở con người cần biết quý trọng thời gian hơn…

Để viết được câu thơ hay như thế nhà thơ  đã phải dùng đến cách nói ví von ba cây kim là ba thanh đoản kiếm. Và lối nói ẩn dụ về sự vĩ đại của thời gian qua động từ “chém”.  

Bây giờ xin các bạn thử làm thơ về cái lọ mực đi. Khó quá. Như tôi cũng chỉ đến tả về hình thù, màu sắc, công dụng của nó (nghiã đen) mà thôi. Dẫu câu thơ có vần vè đến mấy thì bạn đọc cũng toàn thấy những điều họ đã biết tỏng từ lâu và chả thấy ý nghĩa gì đằng sau những câu chữ ấy. Nhưng ta hãy đọc Trần Mạnh Hảo viết nhé:

Câu thơ của mọi thời sau đọc
Có trong lọ mực ngủ trên bàn
máu xanh mà bật bao cười khóc
bụng lọ còn nguyên cả thế gian.

Trần Mạnh Hảo đã nâng cái lọ mực của nhà thơ lên thành biểu tượng có tính khái quát cao, khiến bài thơ ám ảnh đến giật mình với nhiều tầng ý nghĩa (nghĩa bóng).

- đây là lọ mực của một nhà thơ lớn
- Thơ phải chân thật, tình cảm phải được viết ra từ huyết quản của nhà thơ
-  Đề cao giá trị của thơ văn đối với xã hội
- Đòi hỏi của cuộc sống đối với những người cầm bút
- Trách nhiệm của nhà thơ với xã hội


Ở bài thơ này độc giả tha hồ mà khám phá các tầng ý nghĩa ẩn trong những ẩn dụ đôc đáo ấy.

Nhìn cái đồng hồ mà viết  như Ta Go, nhìn cái lọ mực mà viết được như Trần Mạnh Hảo thì phải có biệt tài của một nhà thơ đích thực.

Qua đó ta rút ra là làm thơ tác giả phải nói những điều mình nghĩ chứ đừng nói những điều mình và mọi người nghe thấy, nhìn thấy. Những điều ai cũng biết thì chẳng nói làm gì.

Bây giờ chúng ta đến với một bài thơ nổi tiếng khác của Nguyễn Bính:

                                          Chiều nay dưới bến xuôi đò
                                    Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
                                            Anh đi đấy, anh về đâu?         
                                    Cánh buồm nâu… cánh buồm nâu… cánh buồm…
                                                                               (Không đề)
                                                                               
Hai câu đầu chưa gợi mở được ý gì đằng sau cái nghĩa đen của nó. "Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau" . Nhìn nhau chưa hẳn là thương nhau, và thương nhau ở mức độ nào thì chưa ai đoán ra được.  Tóm lại hai câu đầu chưa phải là thơ. Nó chỉ làm nhiệm vụ dẫn đường cho tác giả triển khai tứ thơ ở hai câu sau mà thôi. Nếu tách riêng ra, nó chỉ là văn vần. Nhưng đến hai câu sau thì ắp đầy tâm trạng của người đưa tiễn:
    
                                                     Anh đi đấy, anh về đâu?         
                                    Cánh buồm nâu… cánh buồm nâu… cánh buồm…
                                    
Ở hai câu này ta có thể khám phá ra các tầng ý nghĩa sau (nghiã bóng):

    1/ Nỗi day dứt đến khắc khoải của cuộc chia li
    2/ Đây là cuộc chia ly trong vô vọng.
    3/ Tình cảm nồng thắm, chứa chan của người đưa tiễn
  4/ Dòng sông rất rộng.
  5/ Người đưa tiễn đứng ngóng trên bến rất lâu.
 
    Các tầng ý nghĩa này được gợi mở bởi các thủ pháp nghệ thuật sau:
    
   1/ Cách chuyển nhịp đột ngột của câu thơ từ 2/2 sang 3/3:                  
   
                                            Chiều nay/ dưới bến /xuôi đò
                                    Thương nhau/ qua cửa / tò vò/ nhìn nhau
                                            Anh đi đấy,/ anh về đâu?         
                                    Cánh buồm nâu…/ cánh buồm nâu…/ cánh buồm…
                                    
Câu hỏi tu từ: “Anh đi đấy,/ anh về đâu?” chia câu lục thành hai vế tiểu đối đầy day dứt, trở trăn. Nỗi niềm của kẻ ở trước bước chân vô định của người đi khiến câu thơ phá vỡ nhịp truyền thống mà nghẹn lai: “Anh đi đấy” rồi trào lên: “anh về đâu?”   như một tiếng nấc nghẹn ngào ,  để đến câu bát đổ tràn ra tựa hồ một hơi thở dài chìm dần vào vô tận: “Cánh buồm nâu…/ cánh buồm nâu…/ cánh buồm…”. Biết rằng  người đi nhưng nhấn mạnh là: “đi đấy”, một sự khẳng định đầy tâm trạng rất hợp lo-zic tình cảm với câu nghi vấn: “anh về đâu?”. Biết người thân ra đi nhưng không biết đến đâu, về đâu ai chẳng lo lắng, trở trăn.
    
2/ Hình ảnh cánh buồm nâu được điệp lại  khiến câu thơ có sức gợi đến kinh ngạc. Đọc câu thơ người ta dễ dàng hình dung ra khung cảnh trời nước mênh mông mà trên đó có một cánh buồm nâu nhỏ dần… nhỏ dần… rồi mất hút vào đường chân trời xa lắc. Câu bát cuối này không những đã gợi được khoảng không gian mà còn giúp người ta cảm được cả thời gian và hình ảnh người đưa tiễn đang đứng lặng trên bờ chiều như một pho tượng đau đáu dõi mãi về phía chân trời: “Cánh buồm nâu…/ cánh buồm nâu…/ cánh buồm…”
   
Cả bài thơ không hề nhắc đến một từ chỉ sự chờ đợi nào nhưng hình tượng của nhân vật trữ tình đã hóa đá trong mỏi mòn mong nhớ.

Như vậy trong một bài thơ không nhất thiết câu nào cũng phải là thơ nhưng phải có một hoặc nhiều câu thực sự là THƠ.

Đến đây sẽ có bạn thắc mắc vậy khi cứ tả thực, có gì viết đấy, không dùng các biện pháp tu từ nào liệu có thành thơ không?

Xin thưa là có đấy. Trường hợp này xảy ra rất nhiều khi hiện thực cuộc sống đã là thơ

b/ NÀNG THƠ HIỆN DIỆN LUNG LINH NGAY TRƯỚC MẮT MỌI NGƯỜI

Cả cuộc đời của Bác Hồ là một bài thơ vĩ đại. Nhiều nhà thơ nhạy cảm đã bắt được nàng Thơ ngay trong những sinh hạt đời thường của Người và cứ thế mà đưa luôn vào sáng tác. Trường hợp bài "Đêm nay Bác không ngủ" của nhà thơ Minh Huệ là một ví dụ. Tác giả hầu như không cần phải dùng đến các thủ pháp nghệ thuật. Bài thơ chỉ kể lại rằng vào một đêm đông lạnh giá có một vị "vua" không ngủ. Người đi "dém chăn" chăm lo cho giấc ngủ của các chiến sỹ. Nàng Thơ ơi! Chính hiện thực cuộc sống đã là Nàng.
   
Chúng ta hãy đọc những dòng viết rất thật của nhà thơ Vương Trọng về mười cô thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc:
   
"Bữa cơm cuối cùng mười chị em không có gạo
Nắm mỳ luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường
Cần gì ư? Ai hỏi trong chiều?...
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu.
Ngày bom vùi tóc tai còn bết đất
Nằm xuống mộ mái đầu chưa gội được"...

“ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) là đây.

Qua đoạn thơ trên ta thấy:

- những gian khổ khó khăn của các chiến sỹ
- Sự hy sinh vô cùng to lớn của các cô gái thanh niên xung phong
- Sự thương cảm ngậm ngùi của tác giả trước sự hy sinh thiêng liêng cao cả ấy.

Hiện thực ở đây đầy ắp chất thơ.

Ở đoạn thơ trên tác giả cũng không hề sử dụng một thủ pháp nghệ thuật nào. Cái tài của nhà thơ có chăng chỉ là biết chọn lọc những chi tiết hiện thực đã là thơ, rồi bê nguyên xi vào trang viết

  Trong sinh hoạt bình dị của cuộc sống hàng ngày cũng không thiếu gì những chi tiết nên thơ. Ta hãy đọc thơ của Trần Doãn Nho, một tác giả không chuyên ở Câu Lạc Bộ thơ Non Côi viết về tình cảm của hai vợ chồng nghèo trong bữa ăn đạm bạc:
 
           "Canh bầu thêm quả trứng tròn
           Canh rau thì hết, trứng còn nhường nhau."
           
  Hiện thực tươi roi rói. Cặp lục bát không dùng bất kỳ một thủ pháp nghệ thuật nào nhưng ai cũng phải thừa nhận đây là một câu thơ (không phải ca vè).
 
Ngoài việc nhường nhau quả trứng tròn (nghĩa đen) ta còn thấy tình cảm của cặp vợ chồng này dành cho nhau quá đầy đặn (nghĩa bóng). Tình thơ rất thực.

Bây giờ ta đến tiếp ba khổ thơ đầu của bài thơ Hai chị em của nhà thơ Vương Trọng tả thực về cảnh hai em bé ngây thơ ở nhà coi nhau để chờ bố mẹ ra tòa ly hôn nhé:

“Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa”
Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi
Thằng bé khóc bụng không quen chịu đói
Hai bàn tay xé áo chị đòi cơm
Bố mẹ đi từ sáng khác mọi hôm
Không nấu nướng và không hề trò chuyện
Hai bóng nhỏ hai đầu ngõ hẻm
Cùng một đường sao chẳng thể chờ nhau
Biết lấy gì dỗ cho em nín đâu
Ngoài hai tiếng ra tòa vừa nge nói
Chắc nó hiểu như ra đồng ra bãi
Sớm muộn chi rồi bố mẹ cũng về…

Ở đây tác giả cũng không hề sử dụng một thủ pháp nghệ thuật nào nhưng mỗi câu thơ như mỗi mũi kim chích vào tim người đọc. hiện thực đã đầy ắp chất thơ.
*
Bằng những phân tích trên chúng ta hãy trở về với bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm của Tòng Văn Hân, vừa đạt giải cao nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ đã gây ra sự phản ứng dữ dội của công chúng.

MẸ  TÔI  CHỬI  KẺ  TRỘM   

Những lần gà nhà tôi bị mất
Mẹ tôi chửi:
Cái đứa trộm gà ơi
Ta cầu mong cho ngươi
Nuôi được gà đầy đàn
Lứa này tiếp lứa khác
Có nhiều gà nhất bản
Có nhiều gà nhất mường!
Những lần lợn con nhà tôi bị mất
Mẹ tôi chửi:
Đứa nào trộm lợn nhà tôi
Thì hãy có nhiều lợn
Đàn tiếp đàn núc ních
Lứa tiếp lứa không ngừng
Bán được nhiều tiền nhé !
Từ thuở bé đến giờ
Hễ nhà mình mất gà mất lợn
Tôi đều nghe thấy mẹ tôi chửi như thế
Cầu mong cho kẻ trộm kia khá giả
Không bao giờ đến nhà tôi ăn trộm nữa
Tôi là đứa con gái dưới mức bình thường
Nhan sắc không bằng đám bạn
Khéo léo không bằng người ta
Thế mà có hẳn bốn nhà
Muốn được tôi làm con dâu của họ

Ở bài thơ trên tác giả Tòng Văn Hân hoàn toàn kể thật. Nếu có một bà mẹ như thế thực thì cuộc chửi kẻ trộm kia đích thị là thơ bởi đã có nghĩa bóng đằng sau hiện thực ấy. Đó là sự thông cảm  cho tên trộm, tính nhân văn trong ứng xử với kẻ hại mình của bà mẹ. Nhưng  hiện thực ở đây khiên cưỡng bởi 2 nguyên nhân.

1/ Nguyên nhân thứ nhất:

Lời của bà mẹ ở đây không phải là chửi theo cách hiểu phổ thông của người Việt. Nó chính xác là lời cầu mong.

Ngay đoạn đầu bài thơ tác giả kể:

"Mẹ tôi chửi:
Cái đứa trộm gà ơi
Ta cầu mong cho ngươi"
Ở mấy câu sau tác giả lại viết
"Hễ nhà mình mất gà mất lợn
Tôi đều nghe thấy mẹ tôi chửi như thế
Cầu mong cho kẻ trộm kia khá giả"

Vậy là chính tác giả đã mâu thuẫn. Câu trên viết "mẹ tôi chửi như thế" thế mà câu dưới lại viết: "cầu mong cho kẻ trộm kia"...Chửi là chửi, cầu mong là cầu mong. Hai khái niệm này hoàn toàn khác biệt.

Thông thường việc cầu mong không bao giờ thành cuộc chửi. Kể cả là cách suy nghĩ của người dân tộc thiểu số. Chả lẽ cầu giời cho mưa thuận gió hòa lại nói là chửi giời cho mưa thuận gió hòa? Tác giả cố tình tạo ra tình huống nên sự việc khó chấp nhận.

2/ Nguyên nhân thứ hai:

Sự mâu thuẫn trong cách diễn đạt là việc dùng các đại từ mang tính miệt thị, khinh ghét "kẻ", "đứa", "ngươi" để chỉ kẻ trộm là phù hợp với lẽ thường. Vậy tại sao không chửi theo lẽ thường. Đã khinh ghét, miệt thị lại cầu mong điều tốt cho kẻ trộm.

Chính sự nhập nhằng, mâu thuẫn trong cách diễn đạt đã khiến người đọc nghi ngờ hiện thực. Người ta cho rằng tác giả bịa ra để viết. Tòng Văn Hân cố tình tìm cách nói cho ra vẻ cách suy nghĩ của người dân tộc khiến hiện thực trở nên khiên cưỡng.

Ở trên tôi đã đưa ra loạt dẫn chứng chuyện Bác Hồ đi dém chăn,  chuyện các cô thanh niên xung phong hy sinh ở ngã ba Đồng Lộc, chuyện vợ chồng nghèo nhường nhau quả trứng... đều là những hiện thực rất thuyết phục, nhà thơ kể ra, người ta tin ngay.

Qua đây chúng ta rút ra một điều là khi hiện thực đã là thơ thì tác giả phải trung thành, cứ tả thực.  Một khi cố tình thêm thắt, làm màu lại làm người đọc nghi ngờ.  Bài thơ trở nên sáo rỗng.

c/ KẾT LUẬN

a/ Khi đọc một thông điệp  (kể cả có vần  điệu hay không vần điệu) mà chỉ có nghĩa đen thì đấy chỉ là ca vè hoặc văn xuôi (ngôn ngữ giao tiếp thông thường)
Ngược lại khi thông điệp ấy có thêm một hay nhiều tầng nghĩa bóng đó đích thị là thơ hoặc đoạn văn, câu truyện giàu chất thơ (ngôn  ngữ thơ)

b/   Xâu chuỗi những phân tích trên ta thấy hiện thực là cái đồng hồ, việc đi cấy, hay cái lọ mực khi ta nhìn vào thì chả thấy thơ đâu. Muốn chuyển thành thơ lên trang viết bắt buộc nhà thơ phải sử dụng các thủ pháp nghệ thuật (các phương pháp tu từ) được bắt nguồn từ cách suy nghĩ khác thường tạo ra những cảm xúc khác thường làm nguyên liệu cho các cách nói khác thường (như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã tổng kết)

c/ Ngược lại khi hiện thực đã là thơ thì kính mời các nhà thơ, không phải lao tâm khổ tứ làm gì cho nhọc xác, đau đầu. Các vị cứ sao chép lại y nguyên hiện thực, sẽ có thơ.

Tối kỵ việc cố tình bịa ra một hiện thực vụng về như bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm ở trên khiến người đọc nghi ngờ.

Nàng Thơ ơi! Nàng thật là vi diệu. Khi thì nàng trốn biệt sau bao nhiêu tư duy nghệ thuật. sau bao nhiêu lao tâm khổ tứ của nhà thơ. Khi thì Nàng lồ lộ ngay trong cuộc sống thường ngày. Ngay trước mắt mọi người. Ấy thế mà các nhà thơ đi tìm  nàng sao mà khổ sở? Họ gồng mình rượt đuổi nàng như chơi trò ú tim nhưng có khi cả đời chẳng một lần bắt gặp.

Nhưng nếu có cơ may gặp được nàng ngay trước mắt thì xin các nhà thơ cứ ung dung  "rước nàng về dinh". Tôi tin tưởng những câu thơ ấy có sức truyền cảm mạnh nhất và chả bao giờ cũ.
    
TRẦN KẾ HOÀN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Luong truy cap
Covid
MỜI QUẢNG CÁO
TỔ QUỐC TRÊN HẾT
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập88
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm82
  • Hôm nay26,149
  • Tháng hiện tại377,958
  • Tổng lượt truy cập30,955,828
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây