Văn chương: Ðạo và không đạo?

Thứ tư - 04/08/2021 20:21
Vanvn- Ðôi dòng chú giải, đề từ trong tác phẩm văn chương, nếu thiếu sót dễ dẫn đến những “cuộc chiến” dai dẳng với những lời kết tội đạo văn khó lường.
Những bức tường như số phận chúng ta, bài thơ sáng tác năm 2019 của Thanh Thảo (Viết & Đọc mùa Đông 2020), với lời đề từ bằng câu thơ của Nguyễn Thụy Kha Nhìn tường nhà chúng ta từng ở lở lói. Buồn lạ. Thi sĩ cảm hứng từ câu thơ của người khác, tạo ra một không khí những bức tường hữu hình và vô hình của đời mình, riêng mình. Bức tường thời gian, và giới hạn…

Điệp khúc những bức tường cứ thế vang lên. Ba mươi năm rồi bạn ơi/tôi bong tróc như bức tường từng ở/…/những bức tường tuổi già/nhìn ta trân trối. Câu thơ của Nguyễn Thụy Kha là cớ, là xúc tác để Thanh Thảo khai triển cái mạch riêng mình. Đây không phải là lời đề tặng, mà là kỹ thuật thông thường của người làm thơ, mượn/vịn vào một ngòi nổ ý tưởng, cảm xúc mà mình bất chợt chạm tới. Dòng đề từ vừa như lời thông báo, cũng vừa biểu thị sự cảm ơn với người đem lại hứng khởi cho mình.

Trong nhà Tagore (Viết&Đọc mùa Thu 2020) là những cảm xúc và suy tư của nhà thơ Hữu Thỉnh khi đến thăm cố cư của thi hào Rabindranath Tagore ở Ấn Độ. Với những câu thơ hay: Người ta bảo sông Hằng vừa đến thăm ông/để lại dấu chân nơi mái gianh đọng nước.

Bài thơ có chú thích bên dưới: Mượn ý câu thơ của R. Tagore: Bàn tay trái của Chúa thì đáng yêu, bàn tay phải của Chúa thì kinh khủng. Liên quan đến câu thơ trong bài của Hữu Thỉnh: Vượt Chúa để nhìn thấy bàn tay thứ hai của Chúa.

Độc dị thi sĩ Bùi Giáng dù làm thơ “điên rực rỡ”, nhưng lại rất nghiêm cẩn với những đề từ dẫn nguồn ý tưởng, cảm xúc trong các sáng tác của mình. Bài Buổi hội, đề từ bằng đôi câu quen thuộc trong Truyện Kiều Thanh minh trong tiết tháng ba/Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.

Bài Vì bữa đó thì ghi mấy chữ Cảm đề Tess of the d’Urbervilles. Phải tìm hiểu mới biết Tess of the d’Urbervilles (xuất bản năm 1891) là tên tiểu thuyết của nhà văn người Anh Thomas Hardy (1840-1928), về bi kịch một thiếu nữ đáng thương. Sự dẫn nguồn khiến bạn đọc thấm thía hơn cảm xúc và sự chia sẻ từ tâm hồn thi sĩ trong những câu thơ Nên em muốn bàn tay ta siết chặt/Ngón vô ngần đau khổ ở trong tay.

Mưa nguồn là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng in năm 1962 (NXB Hội Nhà văn tái bản năm 1993) nên có sự chăm chút kỹ lưỡng của tác giả, với nhiều bài thơ dẫn đề từ. Nhưng khá ngạc nhiên là tập Đười ươi chân kinh (NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam, 2016) – cuốn tinh tuyển đầu tiên các tác phẩm của Bùi Giáng dày hơn 500 trang, lại bặt không thấy dẫn ra đề từ nào của Bùi Giáng trên những bài thơ?

Trong tập Thơ say của Vũ Hoàng Chương (bản in của NXB Hội Nhà văn, 1992), bài Tình liêu trai đề từ bằng hai câu thơ của Vương Ngư Dương: Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ/Ái thỉnh thu phần quỷ xướng thi. Nhưng chính đôi câu thơ trong bài thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng này (dịch nghĩa: Giọng đời đã chán ngấy không muốn nhắc tới nữa/ Chỉ thích nghe quỷ dưới mộ mùa thu ngâm thơ), Vương Ngư Dương viết ra lại để làm đề từ cho Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh. Những tương tác nghệ thuật thú vị qua thời gian hơn 500 năm.

Bài cuối cùng trong tập Thơ say là Bài hát cuồng có đề từ Y thị hà nhân ngã thị thùy – Trang Tử. Chỉ với điều ấy, tác giả có thể lập tức mở ra một không gian/khẩu khí bát ngát càn khôn: A ha! Đập cho nát vụn/Tuôn châu òa bật lên cười/-Ta có là ta chăng hề ai chứ là ngươi!, theo mạch người xưa.

Đôi dòng chú giải, đề từ trong tác phẩm văn chương, nếu thiếu sót, thậm chí dẫn đến những “cuộc chiến” dai dẳng với những lời kết tội đạo văn khó lường.

Như “trận mạc” từng xảy ra giữa các thi hào Chile đầu thế kỷ 20 mà ở Việt Nam ít thấy nhắc đến. Đó là khi bài thơ số 16 trong tập Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (bản in đầu tiên năm 1924) của Pablo Neruda được phát hiện là “mượn” gần như nguyên vẹn bài số 30 trong tập Người làm vườn của Rabindranath Tagore (Nobel Văn học năm 1913). Nhà thơ đương thời Vicente Huidobro lập tức kết tội “đạo thơ” cho Neruda.

Nhưng căng thẳng hơn cả là sự nảy lửa kéo dài suốt 30 năm giữa thi sĩ Pablo de Rokha – một trong tứ trụ thơ Chile thời đó (cùng Pablo Neruda, Vicente Huidobro) với tác giả Hai mươi bài thơ tình… Rokha thậm chí gọi Neruda là “nghệ sĩ phàm tục, đạo đức giả”, đồng thời viết hàng loạt tiểu luận lẫn sách chống lại Neruda về hành vi “đạo thơ”.

Trong diễn từ nhận giải Nobel năm 197l, lúc này Pablo de Rokha đã qua đời ba năm trước đó vì tự sát, Pablo Neruda có lẽ vẫn còn chưa hết “ấm ức”: Tôi không tự bào chữa, vì tôi tin rằng cả buộc tội cũng như bào chữa đều không nằm trong các nhiệm vụ của nhà thơ… Không nhà thơ nào có kẻ thù đáng kể hơn sự bất tài của chính mình… (Nguyễn Khánh Long dịch, nguồn Talawas).

Tuy nhiên những bản in về sau, bài số 16 này được Neruda chua thêm dòng đề từ Viết lại (paráfrasis) theo bài thơ thứ 30 Người làm vườn của Rabindranath Tagore.

Cũng ít ai biết chính thi phẩm lừng lẫy Thơ Dâng (Gitanjali) của Tagore trước đó cũng chịu “điều tiếng” bởi ảnh hưởng nhiều từ Hafez Shirazi (1315-1390), nhà thơ huyền thoại người Ba Tư (Iran). Tagore cũng thừa nhận điều đó, như nhiều cái tên nổi tiếng như Goethe, Thoreau, W.B Yeats từng bị Hafez Shirazi “ám ảnh”

Gần 180 năm trước, bài thơ bất hủ The Raven (Con quạ) của Edgar Poe cũng chịu nhiều săm soi bàn cãi về “tội đạo thơ”, kéo dài cho đến tận ngày nay. Bởi xuyên suốt tác phẩm này đã mượn cấu trúc và nhịp điệu độc đáo từ một bài thơ của nữ sĩ nổi tiếng đương thời Elizabeth Barrett Browning mà không có một lời nhắc đến. Poe sau đó thừa nhận điều này, và bày tỏ thái độ trân trọng biết ơn của mình với Barrett.

Tuy nhiên, so với những vụ việc tương tự, văn chương Việt Nam có vẻ “thoáng” hơn?

Nhà phê bình Thụy Khuê (Pháp) trong cuốn Cấu trúc thơ (NXB Đà Nẵng & Domino Books, 2019), nhắc lại điều mà nhiều người vẫn biết, đó là bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu “phảng phất ảnh hưởng Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị và Thuyết giao cảm (correspondance) của Baudelaire”. Trong bài Confession d’un poète (Thổ lộ của một nhà thơ), chính Xuân Diệu tâm sự “biết bao lần ông đã mượn ý thơ, tứ thơ, kỹ thuật âm thanh của người trước để biến chế thành của mình”. Là tác phẩm của những tác gia nổi tiếng như Edmond Haraucourt, Felíx Arvers, Alfred de Vigny, Baudelaire,…

Ở đây, Thụy Khuê cho rằng Xuân Diệu “đã dùng vốn của người để tạo nên nghệ thuật của mình”. Điều này đồng nhất với nhận định của Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta”.

Nhà phê bình Thụy Khuê gọi đó là cách sử dụng “điển cố gián tiếp”, một hình thức thông dụng nhất trong thơ, “tức là biến ý hoặc lời của người trước thành của riêng mình, một cách có nghệ thuật (khác với sự sao chép nguyên văn hay đạo văn)”; giá trị của “điển cố gián tiếp”, đó là “thế hệ mai sau không cần biết nguồn của điển cố, cũng vẫn tận hưởng được giá trị nghệ thuật” (Thụy Khuê, sđd trang 104,106).

Có thể thấy, các cấu trúc ngôn ngữ – hình ảnh luôn là cái khuôn dùng chung từ khi nó ra đời. Rất nhiều những mô thức biểu đạt ngôn ngữ trở thành biểu tượng kinh điển cho tư duy và nghệ thuật sáng tạo, lặn sâu vào tâm thức và tiềm thức, mà không có nghĩa người đi sau phải tránh xa không được “đụng” đến! Qua hàng ngàn năm, tiến trình văn chương nhân loại đầy những cái bóng khổng lồ, sự va chạm, giao thoa làm sao tránh khỏi. Độc sáng chỉ có ở thiên tài, nhưng ngay cả những thiên tài đôi khi cũng phải “đứng trên vai” tiền nhân. Nói như I.A. Richards (1893-1979), nhà thơ, nhà phê bình người Anh, đó là “tiếng vọng phổ quát của sự đồng nhất/giống nhau trong văn học và sáng tạo” (universal echo of literary and creative uniformity).

Nên thực tế không phải trường hợp nào cũng là đạo văn. Miễn sao trên cơ sở đó người sáng tạo phát triển và biến tấu được tư tưởng-nghệ thuật riêng cho tác phẩm của mình.

Tuy nhiên, với tư cách một người làm thơ, tôi bày tỏ sự tôn trọng với những đề từ/chú giải bên lề bài thơ, thông báo cho bạn đọc biết ở đó đã có sự vay mượn/gợi hứng từ sáng tạo của người khác. Một thái độ sòng phẳng và văn minh cần thiết.

TRẦN TUẤN
Văn Nghệ số 5 Bộ mớ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

TỔ QUỐC TRÊN HẾT
50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Trung Thu
TRUNG THU
Covid
MỜI QUẢNG CÁO
Luong truy cap
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập70
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm69
  • Hôm nay12,638
  • Tháng hiện tại484,488
  • Tổng lượt truy cập32,779,833
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây