Thu04172014

Last update08:50:35 AM GMT

Văn hóa Việt Nam thời tiền sử và sơ sử

  • PDF.

     Sở dĩ VH tiền sử và sơ sử (thời Văn Lang-Âu Lạc) xếp chung một giai đoạn mà không tách bạch vì lí do đây là giai đoạn về thời gian cũng như không gian bị “nhòe” do chưa có sử sách chép lại. Những cứ liệu khảo cổ học, di chỉ văn hóa, truyền thuyết… là cơ sở chủ yếu để chúng ta xác định lịch sử VHVN ở giai đoạn khởi thủy rất quan trọng này.
     Đây là thời kỳ hình thành nền tảng-cơ tầng văn hoá Việt Nam, được tính từ khi người nguyên thủy biết dùng đá để chế tác công cụ cách ngày nay vài chục vạn năm cho đến thời đại Hùng Vương dựng nước - thời đại làm nên hai thành tựu lớn lao có ý nghĩa lịch sử. Đó là sự hình thành của nền văn minh sông Hồng và sự ra đời của hình thái nhà nước sơ khai: nhà nước Văn Lang của các vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lạc của An Dương Vương.

1. Văn hóa Việt Nam thời tiền sử
a. Thời gian và không gian văn hóa-lịch sử:
    Ban_do_VNVăn hóa Việt Nam thời tiền sử là thời kỳ trước khi xuất hiện nền văn minh cổ đại, tức là trước khi hình thành nhà nước - quốc gia (từ thiên niên kỉ thứ nhất TCN - cuối thời đại đá mới), trên đất nước Việt Nam đã có một quá trình phát triển văn hoá lâu dài.
     Trong thời kỳ tiền sử ấy đã dần dần hình thành một cơ tầng văn hoá chung cho tất cả cư dân ở vùng Đông Nam Á. Đó là nền văn hoá lấy nghề nông làm phương thức hoạt động, thích nghi với điều kiện tự nhiên thuộc khu vực châu Á gió mùa. Nền văn hoá có đặc trưng là một phức thể văn hoá lúa nước với ba yếu tố: văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển. Trong đó, yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo.

     Đông Nam Á tiền sử có vị trí địa lý phía Bắc vươn tới bờ nam sông Dương Tử (vùng Hoa Nam Trung Quốc hiện nay), phía Tây lan rộng tới vùng Đông Bắc Ấn Độ, phía Đông và Nam bao gồm các đảo, quần đảo trên Ấn Độ dương và Thái Bình dương. Với Đông Nam Á tiền sử, Việt Nam ở vào vị trí trung tâm, một vị trí rất thuận lợi cho việc giao lưu ngoài khu vực cả trên bộ lẫn trên biển.

     Trong tài liệu Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá, tác giả Hà Văn Thùy viết: “Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Việt Nam đi lên phía Bắc, tràn qua lục địa Trung Hoa. Thời gian này không được nhắc tới trong huyền sử. Chỉ khoảng 5000 năm TCN tổ tiên người Việt mới xuất hiện trong huyền sử với Toại Nhân, Phục Hy… cùng địa danh Thái Sơn. Thái Sơn là trung tâm quần tụ của người Việt thời kỳ Bắc tiến, trước đây vẫn được coi là đất phát tích của người Việt (Có lẽ núi Thái Sơn trong câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra là đấy chăng ?). Từ 2500 năm TCN, do cuộc đụng độ với Hán tộc, tiền sử của người Việt lần đầu tiên được ghi lại bằng văn tự. Ðây cũng là thời kỳ người Việt bỏ chạy khỏi Thái Sơn để lui xuống tụ cư tại vùng Ngũ Lĩnh. Tiếp đó do Hán tộc săn đuổi rốt ráo hơn, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Phong Châu. Khi Lạc Long quân đem quân dân Việt đổ bộ vào Nghệ Tĩnh xây dựng thời đại Châu Phong là tổ tiên ta trở lại nơi phát tích của mình, nhận vai trò người thừa kế hợp pháp cả về huyết thống cả về lãnh thổ của tổ tiên người Việt. Một dòng lịch sử truyền nối liên tục không đứt quãng. Phát hiện này làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về cội nguồn và lịch sử dân tộc”.

b. Các nền văn hóa
     Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ, có đủ ba yếu tố văn hoá núi, đồng bằng và biển, có đủ các sắc tộc thuộc các ngữ hệ ở Đông Nam Á hiện nay. Thông qua các ngành khảo cổ học và cổ nhân học, chúng ta biết có các nền văn hoá trên đất nước Việt Nam thuộc thời kỳ tiền sử:
+ Văn hoá Núi Đọ - văn hoá thuộc thời kỳ đá cũ, bắt đầu hàng chục vạn năm kéo dài cho đến một vạn năm cách ngày nay (tên gọi của nền văn hoá này là từ điểm khảo cổ học ở núi Đọ, Thanh Hoá)
+ Văn hoá Sơn Vi (Phú Thọ) - văn hoá thuộc hậu kỳ đá cũ, tồn tại từ 20 đến 15 nghìn năm trước công nguyên.
+ Văn hoá Hoà Bình (Hoà Bình) - văn hoá thuộc thời kỳ đá giữa, kéo dài khoảng từ 12.000 đến 7.000 năm cách ngày nay. Đã có một nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện trong lòng văn hoá Hoà Bình.
+ Văn hoá Bắc Sơn (Lạng Sơn) - văn hoá thuộc thời kỳ đá mới, kéo dài khoảng từ 11.000 năm đến 7.000 năm cách ngày nay. Cùng với nền văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn đã làm nên khúc dạo đầu của cuộc cách mạng đá mới. Để đến cuối thời đại đá mới thì phần lớn các bộ lạc nguyên thuỷ đã tiến sang giai đoạn nông nghiệp trồng lúa, cũng tức là chuyển từ kinh tế khai thác sang kinh tế sản xuất, thực sự bước vào lĩnh vực sáng tạo văn hoá, làm thành một trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá xưa nhất thế giới.

2.Văn hóa Việt Nam thời sơ sử
     Cách đây khoảng 4000 năm, cư dân Việt Nam từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Đồng Nai đã bước vào thời đại kim khí. Thời kỳ này trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay đã tồn tại 3 trung tâm văn hoá lớn của 3 quốc gia cổ nhất Đông Nam Á :

a. Văn hoá Đông Sơn (miền Bắc) gắn với sự ra đời của nhà nước Văn Lang của các vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lạc của vua An Dương Vương. Với nền văn hoá Đông Sơn, kỹ thuật chế tác đồ đồng đã vươn lên trình độ khá cao so với trình độ thế giới lúc đương thời. Sản phẩm đồng thời cũng là biểu tượng của văn hoá Đông Sơn là trống đồng Đông Sơn. Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá Đông Sơn - văn minh sông Hồng ở miền Bắc là một quá trình hình thành nên cái cốt lõi của người Việt cổ và nhà nước đầu tiên của họ. Đây là một nền văn hoá thống nhất mà chủ nhân của nền văn hoá đó là một cộng đồng cư dân gồm nhiều thành phần tộc người gần gũi nhau về nhân chủng và văn hoá. Văn hoá Đông Sơn là một điển hình của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước.

     Theo truyền thuyết giai đoạn này khởi đầu từ khoảng giữa thiên niên kỉ thứ III. trCN. Thời kỳ Hồng Bàng cho rằng bắt đầu từ năm 2879 TCN, là niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ cho tới năm 207 trCN là năm Triệu Đà thôn tính Âu Lạc.
     Địa bàn của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương VN_thoi_Kinh_duong_vuongTử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay). Về sau người Việt chỉ thấy có ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, có thể một phần do sự lấn áp của các tộc người Hoa Hạ từ phương Bắc.
     Đầu thời kỳ đồ đồng, người Việt gồm khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống trên vùng núi phía Bắc và miền châu thổ sông Hồng. Để tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù... những bộ tộc Lạc Việt thống nhất lại thành một quốc gia lấy tên Văn Lang, định đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ). Người đứng đầu tự xưng là Hùng Vương. Có ít nhất 18 đời Hùng Vương cai trị trong thời đại Hồng Bàng. Các thông tin về các đời vua Hùng dựa nhiều vào các truyền thuyết. Dân số nước ta cuối thời Văn Lang ước khoảng 500 ngàn người.

     Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỉ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, đẻ một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.

     Năm Quí Mão 258 TCN (có tài liệu gần đây xác định lại là năm 208), Thục Phán, một thủ lĩnh của các bộ tộc Âu Việt chiếm Văn Lang, hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt thành một quốc gia lấy tên nước là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê. An Dương Vương cho xây Loa thành (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội).

     Nhiều bằng chứng khảo cổ học như trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở miền bắc Việt Nam có cùng niên đại với thời kỳ Hồng Bàng, đã chứng minh cho một nền văn hóa đồ đồng rất phát triển - văn hoá Đông Sơn mà chủ nhân của nó là cộng đồng cư dân Văn Lang. Ảnh hưởng của nó rộng lớn từ nam Trung Hoa, Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á. Trống đồng Đông Sơn trở thành biểu tượng của VHVN truyền thống.

b. Văn hoá Sa Huỳnh (miền Trung) được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Chăm Pa. Văn hoá Sa Huỳnh là sản phẩm của cư dân nông nghiệp trồng lúa, nhưng biết khai thác nguồn lợi của rừng và biển, và phát triển các nghề thủ công.

c. Văn hoá Đồng Nai (miền Nam), một cội nguồn hình thành nền văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ vào những thế kỷ đầu công nguyên sau này. Văn hoá Óc Eo gắn với vương quốc Phù Nam, một nhà nước tồn tại từ thế kỷ II đến thế kỷ VII ở châu thổ sông Cửu Long. Văn hoá Đồng Nai cũng là sản phẩm của cư dân có hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủ công.

3. Đặc điểm VHVN thời tiền sử và sơ sử
- Tiến trình văn hoá Việt Nam thời tiền sử và sơ sử là tiến trình hình thành nên những nền tảng của văn hoá Việt Nam, hình thành cốt lõi của người Việt cổ, là phác thảo khởi nguyên về một nền văn hoá quốc gia dân tộc đa tộc người về sau.
- Nền tảng văn hoá đó là văn hoá bản địa - nội sinh, nằm trong cơ tầng văn hoá chung của khu vực văn hoá Đông Nam Á thời bấy giờ, nó khác với hai nền văn hoá - văn minh Trung Quốc và Ấn Độ ở châu Á.
- Đỉnh cao của giai đoạn hình thành những nền tảng văn hoá nội sinh Việt Nam là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh và văn hoá Đồng Nai, cũng là ba đỉnh cao của văn hoá Đông Nam Á, miền đông bán đảo Đông Dương. Ba trung tâm văn hoá đó phát triển theo thế chân vạc, nhưng luôn có mối quan hệ qua lại với nhau, đồng thời phát triển, giao lưu với nhiều văn hoá khác ở khu vực. Đồng thời, ba trung tâm văn hoá ấy đều sẽ phát triển thành ba nền văn minh lớn ở Đông Nam Á, ứng với ba quốc gia cổ đại là Văn Lang - Âu Lạc, Chăm Pa và Phù Nam.
- Như thế, trước khi chịu sự thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc, đất nước ta đã từng tồn tại một nền văn minh cổ như vậy, nên ý thức quốc gia dân tộc của người Việt đã sớm hình thành và làm nên một sức mạnh đủ để dân tộc Việt Nam vừa không bị Hán hoá lại vừa có khả năng thâu hoá những nhân tố của mô hình văn hoá Trung Quốc trong quá trình xây dựng nhà nước Đại Việt tự chủ sau này.

4. Thành tựu VHVN thời tiền sử và sơ sử
- Về mặt kỹ thuật: Văn hóa tiền sử và sơ sử hình thành và phát triển trên cơ sở cuộc cách mạng luyện kim với nghề đúc đồng dần đạt đến mức hoàn thiện (tiêu biểu là nền văn hóa Đông Sơn).
- Về đời sống kinh tế: Hình thành nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của người Việt cổ sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một xứ sở có nhiều sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả. Người Việt cổ biết thuần dưỡng một số gia súc (bò trâu, gà vịt, heo), biết dùng trâu, bò để cày bừa, biết trồng dâu nuôi tằm, dệt vải. Ở ven các dòng sông và ven biển dân bản địa thạo nghề đi biển và đánh bắt hải sản.
     Dùng cây thuốc nam chữa bệnh. Uống chè.
     Người Việt cổ làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc Văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà này của người Việt.

     Sách Cổ Kim Ðồ Thư, Thảo Mộc Ðiếm của Trung-hoa chép: ‘Mã viện tâu vua Tàu, Giao-chỉ ép mía làm đường phèn: Giao chỉ có thứ cây mía ngọt, đem ép lấy nước rồi làm đường phèn’ … ‘Giao chỉ làm giấy mật hương : giấy mật hương làm bằng lá và vỏ cây mật hương trồng ở Giao-chỉ, giấy mềm, giai và thơm, ngâm nước không bở không nát’.
     “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.” “Họ biết uống nước bằng lỗ mũi” “Nuôi tằm mà dệt vải” “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ” “Dùng đá màu làm men gốm” “Dùng mu rùa mà bói việc tương lai” “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm” “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh.”

- Về tổ chức xã hội và đời sống tinh thần:
+ Nền văn hóa tiền sử và sơ sử tổ chức xóm làng dựa trên cơ cấu nông thôn kiểu Á châu của một xã hội phân hóa chưa sâu sắc, gay gắt và nhà nước mới hình thành. Nhà nước vừa có mặt bóc lột công xã, lại vừa đại diện cho lợi ích chung của công xã trong yêu cầu tổ chức đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, khai hoang, trị thủy làm thủy lợi, tự vệ và chống ngoại xâm. Ở các vùng núi cư dân còn ở trình độ tổ chức bộ lạc; nhưng ở trung du và đồng bằng cư dân đã dần dần vươn đến trình độ tổ chức liên minh bộ lạc.
+ Nền văn hóa tiền sử và sơ sử thể hiện đậm nét bản lĩnh, truyền thống, cốt cách, lối sống và lẽ sống của người Việt cổ: Chung lưng đấu cật, đoàn kết, gắn bó với nhau trong lao động và đấu tranh, giàu tình làng nghĩa nước, tôn trọng người già và phụ nữ, biết ơn và tôn thờ tổ tiên, các anh hùng nghĩa sĩ,...; có cội rễ và cơ sở sâu xa trong cuộc sống lâu đời của các lớp cư dân trên lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thưở đó.
+ Nền văn học dân gian hình thành và phát triển đặc biệt là các thể loại như thần thoại, truyền thuyết,...
+ Có thể cha ông ta đã tạo ra hệ thống văn tự, chữ viết, nhưng về sau bị xóa bỏ. Sử Trung Quốc cũng đã chép: người phương Nam có thứ chữ “khoa đẩu”. Những cứ liệu về dấu vết chữ viết trên những phiến đá ở Sa Pa, trên qua đồng Thanh Hóa, lưỡi cày Đông Sơn, trống đồng Lũng Cú… có thể là bằng chứng cho nghi vấn này.
- Nền văn hóa sơ sử sớm có quan hệ giao lưu mật thiết với các nền văn minh láng giềng, đặc biệt là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ.

5. Từ nhận thức trên, có thể rút ra kết luận:
     Ít nhất từ 30.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, người Bách Việt là chủ nhân miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cùng với việc biến cải nơi đây thành vùng nông nghiệp lúa nước, người Bách Việt đã xây dựng nền văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo.
     “Nếu văn hóa Việt ở Trung Nguyên đạt được những thành tựu như vậy thì điều chắc chắn là văn hóa Việt tộc ở đất tổ, ở nơi gốc phát tích sẽ rực rỡ hơn. Cho dù bị hủy hoại không ít trong thời kỳ Bắc thuộc, nhất là ảnh hưởng suy đồi của Hán Nho, Tống Nho nhưng do sức sống nội tại, văn hóa tận nguồn đó vẫn được người dân Việt lưu giữ bảo tồn. Vấn đề của chúng ta là chọn lọc giữa những yếu tố lai tạp để tìm ra tinh hoa văn hóa cội nguồn của dân tộc. Trong việc này, tinh thần Việt nho giúp chúng ta như một định hướng, để ta cắt nghĩa vì sao trên đất nước ta lại có nhiều địa danh “Tàu”? Chính bởi vì khi khai phá lưu vực Hoàng Hà, cha ông chúng ta đã đặt cho đất ấy những tên như Hà Ðông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội… Khi trở về Nam, các vị nhớ tới đất cũ mà đặt tên cho những nơi vừa khai phá. Không phải vay mượn mà cha ông ta lấy lại bản quyền của mình. Không chỉ thế, đó còn là tình cảm là tâm linh tưởng nhớ cội nguồn! Cũng từ cái chìa khóa thần ấy, ta dễ dàng giải thích vì sao người Việt luôn chống Tàu nhưng lại học hỏi và tôn trọng văn hóa Trung Hoa? Bởi lẽ cha ông ta minh triết: biết phân biệt giặc Tàu xâm lược với “văn hóa Tàu” vốn là văn hóa gốc của mình!” (Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá, Hà Văn Thùy)
                                                                                               Nguyễn Duy Xuân (biên tập)
Tài liệu tham khảo và trích dẫn:
1. Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXBGD, 1999
2. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Đặng Đức Siêu, NXBĐHSP, 2004
3. Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng, 1997
4. Hồ Chí Minh về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội 1997
5. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá, tác giả Hà Văn Thùy
6. Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nguyễn Đình Đầu, NXB Trẻ, Tp.Hồ Chí minh, 1999

Share

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Add comment