Báo cáo thành tích Đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Xuân Lâm

Thứ năm - 10/12/2020 02:02
Nhân dịp xã nhà (Xuân Lâm, Nam Đàn, Nghệ An) tổ chức lễ đón danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vào ngày 19-12-2020 sắp tới, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bản báo cáo thành tích đặc biệt xuất sắc của quê hương trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
Một góc Xuân Lâm ngày nay
Một góc Xuân Lâm ngày nay
nguyenduyxuan.net - Ngày 19/4/2019, lúc 15h35', ông Nguyễn Duy Thảo lúc ấy là Bí thư Đảng bộ xã Xuân Lâm có gửi mail kèm theo bản báo cáo thành tích Đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Xuân Lâm do Đảng ủy, Ủy ban xã soạn thảo. Trong thư, ông Thảo viết: "Nhờ bác Duy Xuân xem hộ Báo cáo thành tích đề nghị nhà nước phong tặng dnah hiệu AHLLVTND thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cho xã Xuân Lâm. Bác xem và có thể góp ý bổ sung cho xã với nhé. Có gì chưa rõ Bác có thể trao đổi riêng với Thảo nhé. Cảm ơn Bác!". Chúng tôi đã gọi điện trao đổi với nhau và thống nhất nội dung trên, đồng thời tôi sẽ chỉnh sửa câu chữ, văn phong ở một số chỗ cho chính xác, đúng chính tả và mạch lạc hơn.

Sau đây là nội dung tôi trao đổi lại với Bí thư Thảo sau khi đã đọc kỹ bản báo cáo trước khi hoàn chỉnh biên tập.

"Chú Thảo,

Tôi gửi chú bản đã chỉnh sửa:

1. Không can thiệp vào cấu trúc, nội dung, sự kiện, nhân vật.

2. Chỉ sửa những điểm sau:

- Sửa một số câu cú cho đúng ngữ pháp, một vài chữ cho thích hợp, diễn đạt một vài câu cho gọn rõ hơn nhằm đảm bảo văn bản chuẩn hơn về văn phong.

- Sửa một số lỗi chính tả do lẫn lộn d/gi, dấu hỏi/dấu ngã.

- Sửa khái niệm “cướp chính quyền” thành “giành chính quyền” (cuối trang 5 và trang 6). Trước đây ta hay dùng “cướp chính quyền” nhưng hiện nay, các tài liệu lịch sử, sách giáo khoa đều thay đổi, dùng cách nói mới “giành chính quyền” đúng hơn và nâng tầm của cuộc CM tháng Tám lên hơn.

- Dùng cỡ chữ Times New Roman 13 hoặc 14. Bản gốc cỡ 11 vừa nhỏ vừa không đúng quy chuẩn. Tôi dùng cỡ 14 để văn bản có độ dày vừa phải, không mỏng quá, khi đóng tập dễ coi hơn. Do đó số trang tăng lên (25 trang).

- Mục ký của lãnh đạo, cấp trên dùng text box để khỏi bị thay đổi định dạng khi chỉnh sửa.

3. Đề nghị: Kiểm tra lại nội dung phần bôi nền xanh (trang 8):

- “Trước tình hình chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4, cán bộ, học sinh miền Nam tập kết và hàng trăm người dân từ thành phố Vinh được lệnh sơ tán về địa bàn xã Xuân Lâm…”.

Đoạn này nói về thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thông tin “nhiều đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4, cán bộ, học sinh miền Nam tập kết và hàng trăm người dân từ thành phố Vinh được lệnh sơ tán về địa bàn xã Xuân Lâm” có chính xác? Đặc biệt là chi tiết “cán bộ, học sinh miền Nam tập kết” về xã nhà?

Tôi nhớ không sai (và đã tra cứu kỹ tài liệu lịch sử, báo chí) thì “tập kết” cán bộ và học sinh miền Nam diễn ra trong giai đoạn từ 1954 đến 1975. Chi tiết này báo cáo nhầm với giai đoạn sau chăng?

- Nên in thành tập, trình bày đẹp, bọc bìa cứng để văn bản vừa có tính thẩm mỹ vừa có sức cuốn hút về hình thức. Sau này lưu trữ phòng truyền thống cũng tiện hơn.

- Nhân nói chuyện phòng truyền thống, với tầm vóc chiến công, truyền thống lịch sử của xã nhà, không biết chúng ta đã có phòng này chưa? Một “bảo tàng” lịch sử mi ni là rất cần thiết và bổ ích. Chỉ cần một vài gian phòng (có thể đặt nơi trụ sở hay trường học) để trưng bày hiện vật có chọn lọc thì đó sẽ là bài học giáo dục cho thế hệ trẻ rất quý giá và hiệu quả.

Tôi còn nhớ, trường cấp 1 thời chúng tôi đi học là ngôi nhà xây kiên cố rất to của địa chủ (hình như là nhà Hàn chỉ). Năm 30-31 nơi đó biến thành nhà tù, đánh đập tra tấn các chiến sỹ cách mạng Xô viết xã. Trường có hẳn một phòng trưng bày hiện vật và tranh vẽ minh họa chiến sỹ ta bị bọn thực dân bắt bớ, đánh đập. Phía sau trường có mấy ngôi mộ liệt sỹ. Rất tiếc là không hiểu sao, khoảng năm 2006, ngôi trường – di tích lịch sử quý hiếm bị phá bỏ. Khu vực trường hình như ở xóm 4 hay 5 bây giờ, nằm sát chân đê.

Vài điều trao đổi, tâm tình.

Chúc chú và ban lãnh đạo xã nhà sức khỏe, thành công!

Mong một ngày gần nhất, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang sẽ về với xã nhà, về với bà con Xuân Lâm bao thế hệ đã không tiếc máu xương vì tự do độc lập của Tổ quốc, vì quê hương giàu đẹp.

Thân ái

Nguyễn Duy Xuân"


Toàn văn báo cáo thành tích:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 

Số: 06/BC- UBND    

Xuân Lâm, ngày 03 tháng 02 năm 2019


BÁO CÁO THÀNH TÍCH
Đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Xuân Lâm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An


I. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Trải qua các thời kỳ lịch sử, do việc tách nhập đơn vị hành chính nên xã Xuân Lâm ngày nay đã từng có các tên gọi khác như Lâm Thịnh, Xuân La, Nam Lâm, Nam Quang, Nam Mỹ.
Xuân Lâm nằm bên tả ngạn sông Lam, thuộc huyện Nam Đàn, cách trung tâm huyện 10km, cách Thành phố Vinh 18km. Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp xã Kim Liên (xã Anh hùng LLVT Nhân dân), phía Nam giáp xã Khánh Sơn (xã Anh hùng LLVT Nhân dân). Tổng diện tích đất tự nhiên 937ha, có 1.888 hộ dân với 8.900 nhân khẩu. Dân cư phân bổ thành 22 xóm, Đảng bộ có 25 chi bộ với 478 đảng viên.
Xuân Lâm là địa bàn có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và cả nước. Tuyến đường đê 42 (quốc lộ 46C) chạy qua địa bàn xã, nối liền Thị xã Cửa Lò - Thành phố Vinh - huyện Hưng Nguyên - huyện Nam Đàn - đường Hồ Chí Minh đến các huyện miền Tây Nghệ An và sang nước bạn Lào; tỉnh lộ 542D kết nối đường đê 42 với xã Kim Liên - quốc lộ 46 - quốc lộ 1A.
Sông Lam là một trong những con sông lớn nhất của cả nước, bắt nguồn từ cao nguyên Xiêng–khoảng (Lào), đổ ra biển Đông tại cửa Hội. Đoạn qua xã Xuân Lâm có bến đò Vạn rú và bến đò chợ Liễu nơi tiếp giáp tuyến đường chiến lược Bắc – Nam (quốc lộ 15A).
Những năm tháng chiến tranh, Xuân Lâm vừa là tuyến lửa, cửa ngõ chi viện cho miền Nam; vừa là nơi tập kết, đưa đón hàng triệu lượt bộ đội, thương binh, tử sỹ, vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, trang bị, hậu cần kỹ thuật, lương thực, thực phẩm chi viện cho chiến trường miền Nam và mặt trận Lào; là nơi đóng quân của xưởng chế tạo vũ khí Liên khu 4, các đơn vị tên lửa phòng không, một số Cục của Bộ tư lệnh Quân khu 4, Trường trung cấp nghiệp vụ cơ yếu Quân khu 4, Đội điều trị quân y 42 bệnh viện Quân khu 4, nhà máy đường Sông Lam tỉnh Nghệ An, cơ quan Huyện ủy và UBND huyện Nam Đàn. Từ 1987 đến nay, Xuân Lâm là nơi đóng quân của Tiểu đoàn Hóa học 38 - Bộ tham mưu Quân khu 4.
Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước, từ thời Hùng Vương cho đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân Xuân Lâm luôn luôn có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, bất khuất, kiên cường trong chiến đấu, góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng mọi thế lực xâm lược của ngoại bang, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những truyền thống tốt đẹp đó luôn được các thế hệ cán bộ, đảng viên và người dân Xuân Lâm gìn giữ, kế thừa và phát huy tích cực trong thời kỳ đổi mới.
II. NHỮNG THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Huyện ủy Nam Đàn, Tỉnh ủy Nghệ An, từ năm 1930 cho đến công cuộc đổi mới hiện nay, nhân dân Xuân Lâm một lòng một dạ theo Đảng, xây dựng tổ chức Đảng, đấu tranh giành chính quyền, chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thi đua xây dựng nông thôn mới.
Xuân Lâm là một trong bốn xã đầu tiên của huyện Nam Đàn sớm thành lập được chi bộ Đảng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1945); xây dựng hậu phương vững mạnh, tích cực tham gia chi viện cho kháng chiến, cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu (1954); khôi phục và phát triển kinh tế, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm thất bại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1975); tham gia bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và thi đua học tập, lao động sáng tạo thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng.
Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, nhân dân Xuân Lâm đã phải chịu nhiều mất mát, đau thương, đồng thời có nhiều đóng góp đặc biệt xuất sắc về người và của. Cụ thể: 08 đồng chí là đảng viên thời kỳ 1930 – 1931, 10 cán bộ tiền khởi nghĩa, 11 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 250 liệt sỹ, 123 thương binh, 86 bệnh binh, 19 chiến sỹ bị địch bắt tù đày, 82 thanh niên xung phong, 69 người bị nhiễm chất độc hóa học, 1.020 người tham gia dân công hỏa tuyến (chiếm 11,5% dân số toàn xã hiện nay), 1.290 gia đình có công với cách mạng được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương các loại (chiếm 68,32% hộ dân toàn xã hiện nay).
Nhiều người trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp ở trung ương, địa phương và lực lượng vũ trang: 1 ủy viên Thường vụ Quốc hội, 1 vụ trưởng, 1 Bí thư Tỉnh ủy, 4 Bí thư Huyện ủy - Chủ tịch UBND huyện và tương đương, 1 Thiếu tướng, 68 cán bộ cao cấp trong Quân đội và Công An, 1 nhà giáo nhân dân, 10 giáo sư và phó giáo sư,…
Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Xuân Lâm đã tham gia chi viện cho chiến trường hơn 10.000 tấn lương thực, thực phẩm; gần 1.300 gia đình thường xuyên tiếp nhận nuôi hàng trăm nghìn lượt bộ đội, thương binh và hiến hàng trăm ngôi nhà để cất dấu vũ khí, khí tài cùng các nhu yếu phẩm phục vụ chiến đấu.
Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, tiếp tục phát huy truyền thống văn hóa và cách mạng nêu trên, cán bộ, đảng viên và nhân dân Xuân Lâm đã nỗ lực phấn đấu không ngừng, giành nhiều thành quả to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tháng 11/2017 xã Xuân Lâm đã vinh dự được UBND tỉnh Nghệ An công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới.
1. Thành tích trong kháng chiến chống thực dân Pháp
1.1. Là một trong 4 xã đầu tiên của huyện Nam Đàn sớm thành lập chi bộ Đảng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945)
Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, tình hình cách mạng trong nước diễn biến nhanh chóng. Ông Vương Thúc Xuân, hội viên của Thanh niên ở Kim Liên bí mật liên lạc với chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Thanh Chương và ngay sau đó về Nam Đàn xây dựng cơ sở Đông Dương Cộng sản Đảng ở Xuân Lâm. Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng trong cả nước bùng lên mạnh mẽ, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931). Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và kỳ bộ Trung kỳ, ngày 25/4/1930 hội nghị thành lập Đảng bộ Nam Đàn được tiến hành và triển khai chủ trương vận động thành lập các Chi bộ cơ sở trong các xã. Đầu tháng 5 năm 1930, các đồng chí Nguyễn Sinh Diên, Vương Thúc Xuân được Huyện ủy cử về chỉ đạo, tuyên truyền cách mạng để chuẩn bị cho việc thành lập chi bộ Đảng ở Xuân Lâm.
Tối ngày 05/6/1930 tại nhà ông Nguyễn Cảnh Bòi, chi bộ Đảng xã Xuân Lâm chính thức được thành lập, đồng chí Nguyễn Cảnh Bòi được chỉ định làm Bí thư Chi bộ. Sự ra đời của chi bộ Đảng ở Xuân Lâm đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với phong trào cách mạng của xã. Phong trào biểu tình đấu tranh của nhân dân bùng lên mạnh mẽ, nhân dân Xuân Lâm đã tham gia mít tinh ở Chợ Đồn và Đình Hát. Sau cuộc mít tinh, cán bộ và những quần chúng tích cực của Xuân Lâm kéo về các ngả đường rải truyền đơn, vận động nhân dân tham gia phong trào cách mạng, kêu gọi địa chủ bãi bỏ địa tô. Ngày 16/6/1930 nông dân Xuân Lâm và một số xã trong huyện tổ chức biểu tình, kéo đến huyện đường buộc tri huyện Lê Khắc Tưởng phải hứa sẽ chuyển mọi yêu sách của quần chúng lên Tổng đốc Nghệ An. Tiếp đến, ngày 30/8/1930 quần chúng từ Xuân Lâm và các xã tự vũ trang đủ loại vũ khí thô sơ xông thẳng vào huyện đường, phá nhà lao giải thoát cho những người bị giam giữ, đốt giấy tờ, sổ sách, buộc tri huyện Lê Khắc Tưởng phải viết vào giấy cam đoan “từ nay về sau không nhũng nhiễu nhân dân nữa”. Sau thắng lợi này, ở Xuân Lâm chính quyền Xô viết, tổ chức Nông hội Đỏ, lực lượng tự vệ đỏ được thành lập. Ban Xô Viết lâm thời gồm các ông Nguyễn Cảnh Bòi, Nguyễn Xuân Hoa, Nguyễn Xuân Linh; lực lượng Tự vệ Đỏ của xã gồm 109 người, chia làm 8 đội, đội trưởng gồm các ông Trương Thành, Lê Thương, Đỗ Đàn, Chắt Hưng, Nguyễn Ân, Bành Trọng Tấn, Diên Khai và Cháu Kiền, các đội có nhiệm vụ trấn át bọn phản cách mạng, bảo vệ các cuộc mít tinh, diễn thuyết trong xã.
Giữa tháng 8 năm 1930, làn sóng biểu tình, tổng đình công của các nhà máy ở khu vực Vinh- Bến Thủy lên cao, Huyện ủy Nam Đàn triệu tập Hội nghị Chi bộ các xã để triển khai kế hoạch hưởng ứng và ủng hộ phong trào. Ngay sau đó, tại Xuân Lâm, chi bộ Đảng đã lãnh đạo quần chúng khắp nơi trong xã tổ chức mít tinh ở Đình Hát, Chùa Tào, đền Giáp Cả với sự tham gia của hàng ngàn người. Ban ngày thì mít tinh, diễn thuyết kêu gọi quần chúng nhân dân đoàn kết đấu tranh; ban đêm thì rước đuốc, tuần hành, thị uy tạo thành không khí náo nhiệt khắp cả vùng. Nhân dân trấn áp, bắt bọn hào lý phải quy hàng Xô Viết, tiến hành bắt tên Trần Hữu Sạ - Ủy viên đại biểu Trung Kỳ - Chánh tổng Lâm Thịnh quy hàng, nạp sổ sách, triện và thực hiện các yêu sách của quần chúng. Xã bộ Nông kết hợp với Tự vệ Đỏ triển khai nhiệm vụ tịch thu ruộng đất công đem chia cho nông dân. Kết quả trong thời gian này, Xuân Lâm đã tịch thu 208 mẫu ruộng công ở vùng Thành và Long Môn, 60 mẫu ở làng Chung Mỹ, 100 mẫu ruộng ở làng Mỹ Châu, 50 mẫu ở Xuân La đem chia theo bình quân cho các hộ.
Sau cao trào 1930 – 1931, trước sự đàn áp dã man của địch, phong trào cách mạng trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói chung và xã Xuân Lâm nói riêng gặp nhiều khó khăn và chịu tổn thất to lớn. Hầu hết các đồng chí đảng viên của Xuân Lâm bị giết hoặc bị bắt, một số cán bộ bị tra tấn cực hình như ông Bành Trọng Tấn, Bành Trọng Hợi, Trần Căn Cẩn, Nguyễn Cảnh Bòi, Nguyễn Cảnh Hân, Trần Văn Huynh, Trần Văn Tuệ, Nguyễn Bá Thao... Cuối năm 1931, giặc lùng sục bắt đưa về đồn 37 cán bộ, chúng tra tấn, đánh đập dã man nhưng các đồng chí quyết không khai nửa lời, vì thế chúng đưa ra Dăm Cồn trước cửa đồn Xuân La (Xuân Lâm) bắn chết 37 người rồi chôn vào một hố, có người đi chợ không có thẻ quy thuận cũng bị bắn chết. Những người hy sinh trong các cuộc đấu tranh có ông Nguyễn Thạc Tam, Nguyễn Thạc Khoan, Nguyễn Cảnh Thân…. Tổng số người bị bắt trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Xuân Lâm là 44 người. Nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn, không chịu khuất phục trước kẻ thù, nhân dân Xuân Lâm đã vượt qua khó khăn, mất mát, đau thương, từng bước khôi phục, củng cố lại tổ chức.
Vào đầu năm 1944, cuộc chiến tranh chống phát xít của nhân dân thế giới liên tục giành được nhiều thắng lợi to lớn trên khắp các mặt trận. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị Quyết chuyển hướng chỉ đạo chiến lược “đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết”, Hội nghị ra Nghị quyết thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm xây dựng lực lượng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Thực hiện Nghị quyết của cấp trên, Xuân Lâm cũng đã nhanh chóng thành lập được Mặt trận Việt Minh.
Ngày 12/3/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Một chủ trương lớn được ban bố và thực hiện ngay, đó là “tuyên truyền tập hợp quần chúng, thành lập lực lượng vũ trang ở các địa phương”. Trước bối cảnh đó, để đánh lừa dư luận, phát xít Nhật giương khẩu hiệu độc lập giả hiệu, mở cửa nhà tù, thả tù chính trị do thực dân Pháp bắt trước đây. Trong số tù chính trị được thả lần này, có một người con ưu tú của xã Xuân Lâm đó là đồng chí Nguyễn Xuân Linh (sau này đồng chí là Bí thư Việt Minh liên tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, cán bộ chủ trì của tỉnh Nghệ Tĩnh, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, tháng 5/1972 đồng chí được Trung ương Đảng và Quốc hội điều động ra Hà Nội đảm nhiệm chức vụ Ủy viên Thường vụ Quốc hội).
Tại địa bàn Xuân Lâm, những Đảng viên được ra tù kết hợp với các đồng chí đảng viên ở địa phương đã bắt liên lạc với Huyện ủy thành lập Ban vận động Việt Minh, vận động nhân dân đấu tranh chống cướp bóc của bọn phát xít Nhật. Lợi dụng thời điểm chúng tổ chức lại bộ máy chính quyền ở địa phương, tổ chức Đảng ở Xuân Lâm đã đưa người của mình cài cắm vào bộ máy của chúng ở thôn xóm để làm chỗ dựa cho cách mạng.
Ngày 15/6/1945 Tổng bộ Việt Minh ra lời kêu gọi “toàn thể quốc dân không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo hãy mạnh bạo gia nhập hàng ngũ Việt Minh để diệt trừ phát xít Nhật... chúng ta phải sát cánh dưới cờ của Việt Minh, chuẩn bị vũ trang để giành lại chính quyền, giải phóng Tổ quốc, xây dựng nền độc lập chuyên chính hoàn toàn cho nước Việt Nam…”. Đáp lời kêu gọi, nhân dân Xuân Lâm xin gia nhập Việt Minh ngày càng đông, không khí cách mạng ngày càng sục sôi. Xuân Lâm là một trong sáu xã điển hình của huyện ngay từ cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1945 đã thành lập được lực lượng bán vũ trang, đưa phong trào cách mạng của xã phát triển nhanh chóng, hòa cùng dòng thác cách mạng chung của cả nước.
Để chuẩn bị cho Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, ngày 17/8/1945 các đồng chí cán bộ của Xuân Lâm gồm Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Cảnh Bòi, Đinh Văn Lơm, Trần Như Linh đã tham gia cuộc mít tinh tại sân vận động Sa Nam do Việt Minh huyện tổ chức, sau đó các đồng chí về xã tổ chức mít tinh diễn thuyết tại đình Thánh Thần. Tối 20/8/1945, tại nhà ông Bộ Lan (Nguyễn Xuân Hoa) chi bộ Đảng tổ chức hội nghị và thành lập Ban khởi nghĩa gồm các ông Nguyễn Cảnh Bòi, Bành Trọng Tấn, Trần Như Linh, Cao Danh Khoa, Trần Văn Vị, Đinh Văn Lơm, Nguyễn Văn Vựu, Nguyễn Văn Hường, Vương Đình Dinh, Lê Tần. Hội nghị đã nêu rõ "đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức viết khẩu hiệu, rải truyền đơn, diễn thuyết, treo cờ đỏ sao vàng khích lệ ý chí nhân dân, khẩn trương phát triển mạnh Mặt trận Việt Minh và các hội cứu quốc, các đội tự vệ để hỗ trợ cho việc giành chính quyền và nhanh chóng Phát lệnh tổng khởi nghĩa của Ban Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh đến tất cả các làng trong xã". Do nhiệm vụ tổ chức giành chính quyền tại Xuân Lâm thành hai khu vực, nên Ban tổng khởi nghĩa của xã được chia thành hai bộ phận, ở Xuân La do đồng chí Nguyễn Cảnh Bòi phụ trách, trong ban gồm có các đồng chí Trần Như Linh, Bành Trọng Tấn, Trần Văn Vị, Cao Danh Khoa và ở Lâm Thịnh do đồng chí Đinh Văn Lơm phụ trách, trong ban gồm có các đồng chí Nguyễn Văn Vưu, Nguyễn Văn Hường, Vương Đình Dinh và Lê Tần.
Ngày 22/8/1945 toàn thể nhân dân Xuân Lâm trẻ, già, trai, gái dưới sự điều hành của Ban tổng khởi nghĩa đã tiến hành giành chính quyền. Từ tờ mờ sáng tiếng trống, tiếng loa, tiếng hô khẩu hiệu “Việt Nam Độc Lập muôn năm”; “đánh đổ chế độ thực dân phong kiến” vang dậy cả một vùng. Dưới sự điều khiển của Ban tổng khởi nghĩa, lực lượng của ta đã tiến hành thu triện, sổ sách của ông Tổng Long (ông Tổng Long được ta cài cắm vào làm Cai Tổng). Khi Ban tổng khởi nghĩa kéo đến cướp đồn Xuân La bọn lính bỏ chạy toán loạn, nhân dân phá dỡ hàng rào, đập phá các dụng cụ tra tấn trong đồn. Ở khu vực Lâm Thịnh, Ban tổng khởi nghĩa đã thu triện, sổ sách của ông Cựu Cự, Bộ Truy. Tất cả các đoàn thể trong xã đều có lực lượng trang bị gậy gộc, giáo mác hỗ trợ cho việc giành chính quyền. Đến khoảng 11 giờ trưa cùng ngày, cả hai vùng trong xã đã hoàn thành việc giành chính quyền và tập trung tiến về đình Hai Thôn cùng tổ chức họp mít tinh, tuyên bố giải tán chính quyền cũ và thành lập chính quyền cách mạng lâm thời của xã.
Trên địa bàn huyện Nam Đàn, sáng ngày 23/8/1945 quần chúng từ Xuân Lâm và các xã trong huyện tổ chức lực lượng có vũ khí kéo về huyện đường tiến hành lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. Khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn, chính quyền cách mạng lâm thời huyện Nam Đàn được thành lập. Một lần nữa những người con ưu tú của Xuân Lâm lại được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng trong Chính quyền Cách mạng lâm thời của huyện, như đồng chí Nguyễn Xuân Hoa được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban và đồng chí Trần Huy Quán làm Ủy viên quân sự.
 Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Xuân Lâm có ý nghĩa hết sức to lớn, đó là thắng lợi của một quá trình đấu tranh gian khổ; thắng lợi của lòng yêu nước, yêu quê hương, khát khao Độc Lập; thắng lợi của những con người không chịu cảnh áp bức, bóc lột. Tuy có khi phong trào bị đàn áp dã man và gặp muôn vàn khó khăn, nhưng những người con trung kiên của Xuân Lâm không nhụt chí, cùng với nhân dân cả nước chiến đấu giành thắng lợi vẻ vang.
1.2. Xây dựng lực lượng, hậu phương, tham gia kháng chiến góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Sau ngày độc lập, đầu tháng 9/1945 một trận lũ lụt khủng khiếp làm đê Tả Lam bị vỡ nhiều đoạn, cuốn trôi nhà cửa, lương thực của nhân dân và gây ngập úng nhiều ngày trên diện rộng, trong đó Xuân Lâm và một số xã lân cận chịu hậu quả nặng nề. Cảnh tượng “người chết đói, mẹ bán con, cho con diễn ra rất đáng thương tâm”. Trước tình hình đó, tổ chức Đảng và chính quyền Xuân Lâm đã kịp thời triển khai lực lượng, nhanh chóng chôn cất những người bị chết, đồng thời phát động các hộ khá giả góp gạo giúp các hộ nghèo đói với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, tích cực phát triển sản xuất, ổn định lại cuộc sống. Nhờ vậy sau hơn một năm thực hiện, tình trạng chết đói trên địa bàn xã không còn xảy ra, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Phong trào "bình dân học vụ" cũng được xã triển khai sâu rộng và giành được nhiều thành tích to lớn.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi "toàn quốc kháng chiến", khắp nơi trong cả nước Ủy ban kháng chiến được thành lập. Nhiều thanh niên ở Xuân Lâm đã hăng hái tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ủy ban phòng thủ của xã nhanh chóng được chuyển sang Ủy ban kháng chiến. Khẩn trương triển khai công tác bố phòng, đắp ụ, đào hầm dọc đê 42 nhằm cản bước hành quân của giặc. Đến giữa năm 1949 Xuân Lâm và các xã trong huyện đã đào được 20.162 hầm hào trú ẩn, 51.411m hào giao thông, 29.088 hầm trú ẩn gia đình. Phong trào học tập, xây dựng làng xã theo mô hình “làng kháng chiến Cự Nậm” (Quảng Bình) được xã triển khai thực hiện đạt kết quả cao và là một trong 3 xã tiêu biểu nhất toàn huyện, được công nhận đạt tiêu chuẩn mô hình “làng kháng chiến Cự Nậm”.
Trước tình hình chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4, cán bộ, học sinh miền Nam tập kết và hàng trăm người dân từ thành phố Vinh được lệnh sơ tán về địa bàn xã Xuân Lâm, đồng thời cũng trong giai đoạn này Huyện ủy chỉ đạo lấy Xuân Lâm làm nơi huấn luyện dân quân tập trung của huyện. Do đó, cùng với công tác phục vụ huấn luyện chuẩn bị cho kháng chiến, bằng tình cảm và trách nhiệm, nhân dân Xuân Lâm đã tiếp nhận, bố trí nơi ăn ở, nơi làm việc, cung cấp lương thực, thực phẩm hỗ trợ cho hàng nghìn lượt bộ đội và người dân sơ tán về sinh sống, học tập và công tác trên địa bàn xã trong nhiều năm tháng của cuộc kháng chiến.
Năm 1948, thực dân Pháp chuyển chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" sang chiến lược "Đánh lâu dài, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Ngày 29/12/1948, Ủy ban kháng chiến xã Xuân Lâm được chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chính và thành lập Ban chỉ huy xã đội. Khẩn trương củng cố, xây dựng trận địa, các khu vực bố phòng, kế hoạch, phương án chiến đấu đánh địch đổ bộ từ thành phố Vinh lên dọc đường đê 42, kết hợp với đường thủy sông Lam, củng cố vững chắc trận địa phòng thủ tại cao điểm núi Trấm sẵn sàng đánh địch đổ bộ từ Vinh dọc lên theo quốc lộ 46.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển từ thế phòng ngự sang thế cầm cự, vì vậy hoạt động của hậu phương đều chung mục tiêu lớn là "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Nhằm tăng cường sức mạnh quân sự trên chiến trường, sắc lệnh tổng động viên nhân tài vật lực được ban bố, thanh niên Xuân Lâm lại nô nức lên đường tòng quân giết giặc, chỉ riêng hai năm 1949 và 1950 đã có 106 thanh niên lên đường nhập ngũ.
Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, chủ trương của ta là mở tuyến đường chiến lược 15A từ ngã 3 đường 7 (Đô Lương) đến Lĩnh Cảm (Đức Thọ - Hà Tĩnh). Ngày 15/02/1952, theo Chỉ thị của Huyện ủy, Xuân Lâm đã huy động 02 đại đội dân công hỏa tuyến gồm 150 người, mang theo dụng cụ, lương thực, thực phẩm tham gia làm đường giao thông trong 3 tháng. Với tinh thần trách nhiệm cao nhất, 2 đại đội đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu trên giao và được Tỉnh biểu dương khen thưởng. Đến năm 1954, giặc Pháp ném bom vào làng Đồng Lâm, nơi đóng quân xưởng chế tạo vũ khí Liên khu 4 sơ tán làm 2 người chết, 8 người bị thương, chết 15 con trâu bò, 17 hộ gia đình bị cháy rụi. Ngay sau máy bay địch ném bom, lực lượng dân quân của các xóm đã đến dập lửa, cấp cứu người, động viên nhân dân nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống.
Với tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân Xuân Lâm đã có những đóng góp to lớn về sức người, sức của, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong cuộc chiến đấu trường kỳ đầy gian khổ, Xuân Lâm có 120 thanh niên tham gia nhập ngũ, 44 liệt sỹ, 16 thương binh, 26 người trở thành Sĩ quan quân đội trực tiếp tham gia các cuộc kháng chiến; đóng góp hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm phục vụ kháng chiến; trên 400 lượt người tham gia dân công hỏa tuyến. Những người ở lại hậu phương đã làm hết sức mình đóng góp mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ và vĩ đại của dân tộc.
2. Thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)
2.1. Vừa sản xuất vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm thất bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1954 – 1968)
- Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng hậu phương vững chắc: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân Xuân Lâm bắt tay ngay vào khôi phục và phát triển kinh tế trong điều kiện là một xã thuần nông, phải chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh và thiên tai để lại, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước lại đứng trước họa xâm lăng của đế quốc Mỹ. Với tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, nhân dân Xuân Lâm đã đoàn kết một lòng, thi đua lao động sản xuất, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.  
Tháng 9 năm 1955, Trung ương Đảng chỉ đạo tiến hành cải cách ruộng đất tại các tỉnh Bắc Miền Trung, với khẩu hiệu: “Dân tộc độc lập người cày có ruộng”. Ở Xuân Lâm, khi tiếp nhận chủ trương này, xã đã tổ chức cho nhân dân học tập, chủ động đấu tranh phòng ngừa sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về chủ trương của Đảng và Nhà nước. Để tiến hành đảm bảo đúng định hướng và đạt kết quả cao nhất, xã đã thành lập các đội cải cách, phân công thành viên các đội đến từng thôn xóm thực hiện phương châm 3 cùng, “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”, nhằm hạn chế tối đa những sai lầm trong quá trình thực hiện. Sau một thời gian triển khai, công cuộc cải cách ruộng đất trên địa bàn xã Xuân Lâm đã đạt nhiều kết quả to lớn, qua đó khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng tha thiết ngàn đời của người dân lao động.
Sau cải cách ruộng đất, thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế giai đoạn 1955 - 1957, Xuân Lâm đẩy mạnh phong trào làm giao thông, thủy lợi, huy động nhân dân đào thêm 5 tuyến kênh mương tưới, tiêu phục vụ sản xuất, đảm bảo 2 vụ/năm. Nơi thuận lợi về nước, xã tập trung sản xuất 2 vụ lúa/năm; nơi vùng đất cao, khó khăn về nước mỗi năm 1 vụ lúa, 1 vụ màu. Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, xã chủ trương phát triển thêm nghề thủ công truyền thống như mộc, rèn, trồng bông dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa, nhất là các làng nằm ven sông Lam, trong thôn xóm nhà nào cũng có khung diệt vải; hàng hóa làm ra vừa tự túc phục vụ gia đình, vừa bán cho nhân dân khắp vùng trong huyện và trong tỉnh. Từ 1958 đến năm 1964, phong trào “Ba ngọn cờ hồng” tương ứng với ba hình thức hợp tác xã được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Vì vậy, hợp tác nông nghiệp, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng đều hoạt có hiệu quả. Cũng từ đây đời sống của nhân dân Xuân Lâm ngày càng được nâng lên, có thêm nguồn lực tích lũy để ủng hộ kháng chiến.
Tháng 7/1964, Đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Ngày 27/8/1964 Ban Chấp hành Đảng bộ Huyện Nam Đàn họp hội nghị mở rộng triển khai kế hoạch quốc phòng bảo vệ miền Bắc XHCN, chi viện đắc lực cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiếp thu Nghị quyết, ngày 28/8/1964 Xuân Lâm mở Đại hội Đảng bộ xã, kiểm điểm thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ qua, tập trung bàn nhiệm vụ bảo đảm trị an trong thời chiến và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Huyện uỷ chuyển từ thời bình sang thời chiến. Thực hiện nghị quyết đã đề ra, toàn xã tập trung chỉ đạo tiếp tục mở rộng thêm mạng lưới thuỷ lợi, đưa một số giống lúa mới vào sản xuất, năng suất lúa ngày càng tăng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tạo đà cho toàn dân trong xã vững bước vào giai đoạn mới, giai đoạn vừa sản xuất vừa chiến đấu.
- Nhanh chóng chuyển địa bàn xã từ thời bình sang thời chiến, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc: Từ 1965 - 1968, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược càng trở nên ác liệt. Bị thất bại nặng nề trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, vừa bình định miền Nam, vừa dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc nhằm làm suy yếu tiềm lực của ta, chặn nguồn chi viện cho miền Nam. Cuối tháng 3 năm 1965, Ban thường vụ Huyện uỷ Nam Đàn ban hành Nghị quyết chuyển hướng lãnh đạo toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, để bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Căn cứ Nghị quyết của Huyện uỷ, Xuân Lâm tập trung chỉ đạo chuyển hướng phát triển kinh tế, quốc phòng phù hợp với tình hình của một xã nằm trong trọng điểm đánh phá ác liệt của Mỹ. Chuyển nhân dân từ thời bình sang thời chiến, chuyển hướng phát triển sản xuất, triển khai khẩn cấp thế trận quốc phòng toàn dân, trọng tâm là bố trí các trận địa phòng không ở các vị trí trọng yếu để chống địch đánh phá các mục tiêu trọng điểm. Xây dựng trận địa phòng không tại vùng Nam Lâm và Nam Quang để bảo vệ tuyến đường chiến lược Bắc – Nam (QL 15A), bảo vệ bến đò Vạn Rú và bến đò Chợ Liễu, nơi các đơn vị quân đội ngày đêm vào Nam ra Bắc đi qua; củng cố trận địa bảo vệ đê 42 nhằm đảm bảo tính mạng, tài sản người dân các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Thị xã Cửa Lò, Thành phố Vinh cùng tuyến đường sắt Bắc - Nam và Quốc lộ 1A; xây dựng trận địa phòng không tại cao điểm núi Trấm bảo vệ các cơ quan của Bộ tư lệnh Quân khu 4, bệnh viện quân y 42, trường nghiệp vụ cơ yếu Quân khu 4, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An, cơ quan Huyện ủy và UBND huyện Nam Đàn đóng tại khu vực này, đồng thời bảo vệ các di tích lịch sử của gia đình Bác Hồ tại Kim Liên và Nam Giang. Thành lập 03 trung đội dân quân trực chiến, lập 3 vị trí báo động phòng không tại 3 vùng Nam Lâm, Nam Quang và Nam Mỹ. Mỗi xóm thành lập 01 tiểu ban sơ tán, 1 tổ canh gác báo động để hạn chế thiệt hại khi máy bay ném bom vào địa bàn. Huy động lực lượng làm hầm trú ẩn tại các trường học, mỗi lớp có hai đến 3 hầm chữ A, xây dựng hệ thống giao thông hào qua lại giữa các lớp, hướng dẫn các cháu làm mũ rơm đội đầu khi đến lớp để đảm bảo an toàn, không làm gián đoạn việc dạy và học của các nhà trường.
Ban quản lý 03 hợp tác xã lập kế hoạch và chịu trách nhiệm điều hành sản xuất trong thời chiến, không tổ chức lao động tập trung đông người mà chỉ làm từng tổ từ 3 đến 5 người, tổ chức cho đào các hệ thống hầm trú ẩn ở khắp các cánh đồng, đảm bảo an toàn cho nhân dân khi ra đồng ruộng sản xuất. Kịp thời điều chỉnh một số chỉ tiêu, định mức về kinh tế - xã hội và một số khâu quan trọng trong sản xuất, trước hết là phải đảm bảo lương thực thực phẩm. Các hợp tác xã thành lập các tổ thuỷ lợi chuyên trách và bán chuyên trách gọi là đội thuỷ lợi 1 và thuỷ lợi 2; toàn xã thành lập 3 Đội chủ lực làm giao thông, nhiệm vụ của đội là làm mới, tu sửa đường giao thông trong xã, đồng thời tham gia ứng cứu các trọng điểm trên các địa bàn trong tỉnh khi có lệnh điều động.
- Thành lập các “Đội chèo đò cảm tử” ngày đêm chở bộ đội, vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm vượt sông Lam vào tiền tuyến miền Nam: Trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, tại bến đò Vạn Rú và bến đò Chợ Liễu hàng nghìn người dân Xuân Lâm đã bất chấp gian khổ, hy sinh, ngày đêm chở hàng triệu lượt bộ đội, thương bình, bệnh binh, thanh niên xung phong, dân công; bốc vác, vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, khí tài, lương thực thực phẩm ngày đêm vượt sông Lam vào Nam ra Bắc để chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cao điểm là giai đoạn 1966 – 1968, khi Mỹ leo thang đánh phá ác liệt, số bom đạn chúng ném xuống địa bàn huyện Nam Đàn nói chung và xã Xuân Lâm nói riêng tăng theo cấp số nhân, trong đó một số địa điểm tại Xuân Lâm bị địch ném bom ác liệt, gây thiệt hại hết sức nghiêm trọng như dọc tuyến đường đê 42, tuyến đường đê Dự phòng, khu vực dân cư gần bến đò Vạn Rú và bến đò Chợ Liễu, khu vực núi Trấm.
Ngày 16/3/1966, Đại hội Đảng bộ huyện Nam Đàn lần thứ VIII được tổ chức. Thường vụ Huyện uỷ Nam Đàn có kết luận chỉ đạo xã Xuân Lâm như sau: “Xuân Lâm có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, nằm theo dọc sông Lam, nằm trên tuyến đường giao liên Bắc - Nam, hàng ngày phải đảm bảo an toàn cho các đơn vị quân đội vào Nam ra Bắc qua bến đò vạn Rú và bến đò Chợ Liễu. Vì vậy, địch có thể đánh phá ác liệt từ phía núi Trét cho đến bến sông chợ Liễu. Đảng bộ và nhân dân Xuân Lâm phải có sự chuẩn bị kể cả tinh thần lẫn vật chất, chuẩn bị lực lượng, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ”. Nhận lệnh của trên, Đảng bộ Xuân Lâm đã quán triệt, chỉ đạo nhân dân xây dựng, củng cố khu vực phòng tránh trong các khu dân cư và trên trục đường hành quân của bộ đội. Thành lập 3 trạm báo động máy bay, tổ chức 1 trung đội dân quân trực chiến 12,7 ly bảo vệ đội hình hành quân, thành lập 3 đội cứu thương, đào thêm trên 200 hầm chữ A, 7 km hào giao thông. Huy động đông đảo lực lượng tham gia các đội thép để sửa chữa các tuyến đường giao thông trên địa bàn xã và huyện khi bị địch ném bom hư hỏng.
Vào giữa năm 1966, cường độ đánh phá của giặc Mỹ đối với miền Bắc ngày càng trở nên ác liệt, cả khu 4 là một tuyến lửa. Trên địa bàn Nam Đàn địch đã đánh phá nhiều trọng điểm như: phà Nam Tân, Cầu mượu, rú Trét, bến đò Vạn Rú, bến đò Chợ Liễu…. Để kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam, xã Xuân Lâm đã thành lập 04 “đội chèo đò cảm tử” tại bến đò Vạn rú và bến đò Chợ Liễu (mỗi bến 2 đội, 1 đội ở bờ Bắc và 1 đội ở bờ Nam sông Lam). Mỗi đội thường xuyên phải có khoảng 30 người, nếu có người đau ốm hoặc hy sinh thì phải bổ sung ngay lực lượng để đảm bảo quân số. Tại bến đò Vạn Rú do ông Trịnh Văn Chắt và ông Sỹ Bính phụ trách, tại bến đò Chợ Liễu do các ông Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Thạc Thuận, Nguyễn Thạc Vưu phụ trách. Các đội chèo đò của xã có nhiệm vụ hoạt động liên tục ngày đêm 24/24 giờ, vận chuyển bộ đội, thanh niên xung phong, vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm từ bờ Bắc sang bờ Nam sông Lam để vào miền Nam; chở thương binh từ bờ Nam sang bờ Bắc, bố trí vào ở nhà dân để chữa trị, chăm sóc trước khi đơn vị chuyển thương binh ra các vùng an toàn. Cuộc chiến ngày càng ác liệt, việc chuyển quân, tải thương phục vụ tiền tuyến của các đội chèo đò cảm tử phải huy động lực lượng ngày càng nhiều, mức độ ác liệt, hy sinh ngày càng cao. Những khi đò mắc cạn, phải huy động thêm nhân dân hỗ trợ, gia đình nhà ai có thuyền nhỏ cũng được điều động để chở bộ đội và vũ khí, lương thực, thực phẩm vượt sông kịp thời. Những khi mục tiêu bị lộ, địch liên tục đánh phá vào đội hình, có ngày Mỹ ném 2-3 đợt với hàng chục quả bom vào khu vực bến đò làm rung chuyển, tan hoang cả một vùng rộng lớn. Các thành viên trong đội đã mưu trí, dũng cảm, lăn xả dưới làn mưa bom bão đạn, nhanh chóng lai dắt thuyền bè chở bộ đội vào nơi trú ẩn an toàn, tiến hành hạ tải, phân tán vũ khí, lương thực, thực phẩm cất dấu vào các bãi nổi ở giữa dòng sông. Khi máy bay địch rút đi, mọi hoạt động lại diễn ra bình thường, bộ đội và nhân dân hồ hởi, nhìn về miền Nam thẳng tiến mà không chút sợ hãi, cùng cất lên những câu hò, điệu hát ví dặm Nghệ Tĩnh thân thương trìu mến, với niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tất thắng.
Vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, những người nông dân lao động cần cù, thật thà, chất phác trong “đội chèo đò cảm tử” của Xuân Lâm, bằng ý chí và sức mạnh tuyệt vời, đã duy trì tuyến giao thông đường thủy huyết mạch nối liền đôi bờ dòng Lam, đưa bộ đội, vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhiều người dân phục vụ chèo đò bị thương nặng, có nhiều chiến sỹ trong Đội chèo đò đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ, như Liệt sỹ Trương Thị Minh và nhiều đồng đội khác, họ đã ngã xuống nơi mảnh đất quê hương thân yêu khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi. Những chiến công, mất mát, đau thương nơi bến đò Vạn Rú và bến đò Chợ Liễu đã khắc ghi vào tâm khảm của bao thế hệ người dân Xuân Lâm và nhân dân các huyện trong tỉnh như những bản hùng ca huyền thoại.
- Lập chiến công đặc biệt xuất sắc bắn cháy 01 máy bay phản lực F4 của Mỹ: Ngày 26/5/1966 nhiều tốp máy bay phản lực Mỹ liên tiếp đánh phá ác liệt nhằm đánh sập cầu Mượu, phá hoại toàn bộ tuyến đường giao thông huyết mạch (quốc lộ 46) nối liền Vinh – Hưng Nguyên – Nam Đàn – Thanh Chương – Đô Lương… Nhận lệnh chỉ huy của trên, lực lượng dân quân xã Xuân Lâm nhanh chóng chia thành hai bộ phận, một bộ phận ở tại địa bàn xã trực tiếp bám trận địa phòng không tại núi Trấm và trận địa phòng không ở bến đò Vạn Rú; một bộ phận được điều động hỗ trợ lực lượng dân quân các xã lân cận để chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trận chiến diễn ra ác liệt, máy bay Mỹ ném hàng trăm quả bom xuống xã Xuân Lâm và các xã dọc quốc lộ 46 gây thiệt hại nặng nề. Quyết không sợ hy sinh, các chiến sỹ dân quân xã Xuân Lâm đã chiến đấu ngoan cường, đánh trả các tốp máy bay của địch, làm cho địch hoảng loạn ném bóm không trúng các mục tiêu trọng điểm của ta. Đến khoảng cuối buổi sáng cùng ngày, dân quân xã Xuân Lâm và các lực lượng phòng không các xã lân cận đã bắn cháy 01 máy bay phản lực F4 của Mỹ. Chiến công này đã làm nức lòng quân dân huyện Nam Đàn và cả tỉnh Nghệ An.
- Thành lập 03 “đội cảm tử đào, rà phá bom”, lập công xuất sắc đào và di chuyển đến vị trí an toàn 20 quả bom, rà phá hơn 100 quả bom từ trường: Sau khi máy bay Mỹ rút đi, trên khu vực phía Nam làng Đông Lâm, làng Chung Mĩ, dọc đê 42 và trên dòng Sông Lam có rất nhiều quả bom chưa phát nổ. Trước tình hình đó, Đảng uỷ xã Xuân Lâm đã quyết định chỉ đạo phá bằng hết số bom còn sót lại, để bảo về an toàn tính mạng cho nhân dân, khôi phục các tuyến giao thông đường bộ và đường thủy, kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngay lập tức xã đã tổ chức 3 Đội cảm tử (2 đội có nhiệm vụ đào và gánh bom đến vị trí an toàn, 1 đội có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội công binh rà phá bom từ trường). Mỗi đội được tổ chức 10 - 12 người, chỉ huy chung là đồng chí Trần Đình Thợng – Chủ tịch UBND xã. Đội đào bom ở vùng Nam Mĩ do ông Lê Văn Thống chỉ huy, đội đào bom ở vùng Nam Quang do ông Trần Đình Vinh chỉ huy, đội rà phá bom trên Sông Lam và làng Tào Đông do ông Bùi Đình Âu trực tiếp chỉ huy. Trước khi làm nhiệm vụ đào và rà phá bom, Đảng bộ xã tổ chức làm lễ truy điệu sống và kết nạp đảng viên tại trận cho 12 đồng chí (như đồng chí Trịnh Công Phúc, Nguyễn Thị Xoan, Trần Thị Chất....). Dụng cụ đào bom được làm bằng gỗ và tre, dùng dây thừng để gánh bom, dùng dây thừng buộc các thỏi nam châm hoặc ống bơ để rà phá bom. Với tinh thần khẩn trương và quyết tâm cao nhất, các thành viên trong đội thay ca làm liên tục ngày đêm. Kết quả sau hơn 10 ngày, các Đội cảm tử đã hoàn thành nhiệm vụ đào và di chuyển đến vị trí an toàn 20 quả bom, bàn giao cho bộ đội công binh phá hủy, rà phá hơn 100 quả bom từ trường trên sông Lam và trên các bãi đất ven sông; giải phóng hoàn toàn các tuyến đường thủy và đường bộ, bảo vệ an toàn đê 42 và lực lượng bộ đội hành quân qua địa bàn xã.
- Thành lập 2 “Đại đội xe đạp thồ” vận chuyển hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm tiếp viện cho chiến trường miền Nam: Tháng 3 năm 1968, Mỹ tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 19 trở vào nhằm dồn hoả lực đánh miền Bắc trên địa bàn thu hẹp. Lúc này quân và dân khu 4 phải đương đầu trước sự tàn phá dữ dội của không quân và hải quân Mỹ, các tuyến giao thông vận chuyển bằng xe cơ giới bị đánh phá ác liệt, nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam gặp vô vàn khó khăn. Chủ trương của Đảng và Nhà nước lúc này là động viên mọi lực lượng sẵn có trong dân, mọi phương tiện vận tải từ thô sơ đến hiện đại với khẩu hiệu “xe chưa qua nhà không tiếc”, tất cả vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cùng với cả huyện, Xuân Lâm đã đưa mọi nguồn lực có thể để phục vụ giao thông trên tuyến đường chiến lược Bắc - Nam. Nhận lệnh của trên, Xuân Lâm tổ chức 01 Đại đội vận tải bằng xe đạp thồ do ông Nguyễn Duy Đại làm Đại đội trưởng, Đại đội có 75 người, phương tiện xe đạp được lấy từ gia đình các thành viên trong đoàn hoặc được huy động từ các hộ dân trong xã. Đại đội có nhiệm vụ tiếp nhận và sử dụng xe đạp vận chuyển lương thực, thực phẩm từ Nghệ An vào Hà Tĩnh, Quảng Bình. Kết quả trong đợt 1 năm 1968, Đại đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vận chuyển được hơn 500 tấn lương thực, thực phẩm.
Tiếp nối những thành tích đó, trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ phá hoại lần thứ hai, Xuân Lâm lại một lần nữa thành lập 01 Đội xe đạp thồ gồm 45 người. Với tinh thần dũng cảm và kinh nghiệm có được từ những lần chỉ huy trước đây, đồng chí Nguyễn Duy Đại tiếp tục được giao nhiệm vụ làm đại đội trưởng. Bằng phương tiện này, hàng trăm tấn lương thực từ Nghệ An, Hà Tĩnh đã được Đại đội vận chuyển thành công vào tận Quảng Bình để phục vụ chiến trường, được tỉnh và huyện khen thưởng.
2.2. Khôi phục phát triển kinh tế, chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm thất bại chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1969- 1975)
Tháng 5 năm 1969, Ban chấp hành Đảng bộ xã Xuân Lâm tổ chức hội nghị để đánh giá kết quả xây dựng Đảng năm 1967 - 1968 và phát triển kinh tế của 3 hợp tác xã. Tháng 5 năm 1970, Đại hội Đảng bộ xã Xuân Lâm được tổ chức, dự Đại hội có 145 đại biểu thay mặt cho 300 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trước nỗi đau thương mất mát to lớn khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Đại hội đã xác định quyết tâm “biến đau thương thành hành động”, thi đua lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau Đại hội, các hợp tác xã đẩy mạnh sản xuất, đời sống nhân dân ổn định. Các hoạt động xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao được giữ vững và phát triển tốt. Các đoàn thể chính trị xã hội tạo được nhiều phong trào, động viên đoàn viên, hội viên thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Quốc phòng an ninh được giữ vững, phong trào chung của xã ổn định và phát triển. Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ Nam Đàn, BCH Đảng bộ xã Xuân Lâm đã phổ biến bức thư của Bác Hồ gửi cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An ngày 21/7/1969 đến mọi cán bộ Đảng viên và nhân dân trong toàn xã. Nhân dân Xuân Lâm quyết tâm làm theo những lời Bác dạy.
Tháng 4/1972, đế quốc Mỹ quay lại đánh phá miền Bắc. Trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2, Mỹ đã sử dụng lực lượng lớn máy bay chiến lược B52 ném bom rải thảm. Nam Đàn nói chung và xã Xuân Lâm nói riêng là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt. Trong gần một tháng (từ 27/4 – 25/5/1971) các trọng điểm như: Rú Trét thuộc đường 15A giáp ranh với xã Xuân Lâm, bến đò Vạn Rú, Phà Nam Tân, Cầu Mượu – Nam Giang, Vân Diên… liên tục bị máy bay Mỹ đánh phá cả ngày lẫn đêm. Nam Đàn trong  thời gian này đã phải hứng chịu 495 trận máy bay địch ném bom, trong đó trên địa bàn giáp ranh giữa xã Xuân Lâm và xã Khánh Sơn, bến đò Vạn Rú, chúng đánh phá 119 trận lớn, nhỏ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của.
Không chịu khuất phục trước bom đạn kẻ thù, nhân dân Xuân Lâm vừa đẩy mạnh sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ quê hương và góp sức chi viện cho chiến trường miền Nam. Mọi hoạt động của nhân dân chuyển sang thời chiến, chủ động phòng tránh, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do địch gây ra, giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo giao thông thông suốt và an toàn.
Từ ngày 18/12/1972 đến ngày 30/12/1972, suốt 12 ngày đêm đế quốc Mỹ huy động một lực lượng lớn máy bay B52 liên tục ném bom vào Hà Nội và thành phố Hải phòng cùng nhiều địa phương miền Bắc. Không thể lay chuyển được ý chí của nhân dân ta, Chính phủ Mỹ đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc vào ngày 15/01/1973. Ngày 27/01/1973, Mỹ buộc phải ký hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Trong chiến thắng chung của quân và dân cả nước, cán bộ và nhân dân Xuân Lâm đã đóng góp xuất sắc cả người và của, góp phần làm nên những chiến công vĩ đại.
Sau chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ hai, nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề. Ngày 13 và 14/4/1973 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nam Đàn tổ chức và ban hành Nghị quyết thực hiện 4 mũi tiến công và hướng vào 3 mũi then chốt, nhằm khẩn trương khắc phục hậu quả do chiến tranh gây ra. Để triển khai thực tiện tốt Nghị quyết Đại hội, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân Xuân Lâm đồng loạt ra quân san lấp hàng trăm hố bom, cải tạo đồng ruộng, nạo vét kênh mương, đắp bờ vùng bờ thửa, đẩy mạnh sản xuất chăn nuôi. Giai đoạn này Xuân Lâm là một trong những xã được huyện đánh giá đạt nhiều thành tích xuất sắc.
Tháng 5 năm 1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ xã được tổ chức. Đại hội thông qua chương trình mục tiêu chủ yếu cho nhiệm kỳ là: “Phát huy thành tích đã đạt được, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế. Nỗ lực khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại”. Sau Đại hội các chi bộ và các hợp tác xã đã phát động phong trào thi đua thực hiện nghị quyết Đại hội, phong trào thi đua được tập trung vào các khâu: Cải tiến quản lý và điều hành sản xuất, phân công lao động hợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi, ngành nghề. Chú trọng phát triển các nghề truyền thống như: Mộc, nề, trồng dâu nuôi tằm nhằm tạo giá trị kinh tế ngày một nâng cao. Quyết tâm xây dựng Xuân Lâm xứng đáng với truyền thống từ xưa đến nay.
Tuy nhiên, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn bộc lộ sự ngoan cố, tìm cách phá hoại Hiệp định, chúng tăng cường viện trợ phương tiện chiến tranh cho ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Chúng lấn đất giành dân, chiếm lại một số vùng giải phóng của ta. Từ tình hình thực tế của đất nước, Đảng uỷ xã đã xác định: Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất, Đảng bộ tập trung lãnh đạo hoàn thành các chỉ tiêu chi viện người và của cải cho chiến trường miền Nam được cấp trên giao, góp phần tích cực vào công cuộc chiến đấu giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước.
2.3. Với tinh thần anh dũng, kiên cường và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng, Xuân Lâm đã huy động tối đa sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam
Là địa bàn bị địch đánh phá ác liệt, các đợt ném bom liên tục của Mỹ gây thiệt hại nặng nề cho Xuân Lâm về người và của, sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nhưng với tinh thần “tất cả vì tiền tuyến”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Đảng bộ và chính quyền xã Xuân Lâm đã tích cực động viên thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ. Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua “lập công đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhiều thanh niên Xuân Lâm tự chích tay lấy máu của mình viết đơn tình nguyện tham gia kháng chiến, người chưa đủ 18 tuổi cũng tự kê khai thêm tuổi, có người phải bỏ thêm đá vào túi của mình để đảm bảo trọng lượng với mong muốn là được vào chiến trường chiến đấu giải phóng miền Nam. Trong số những thanh niên ưu tú ấy, có người mãi mãi ra đi và không một lần được trở lại với cha mẹ, anh em, bạn bè, quê hương, làng xóm; họ đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường miền Nam, nơi những cánh rừng đại ngàn của nước bạn Lào xã xôi để cho đất nước được nở hoa độc lập, kết trái tự do. Trong 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Xuân Lâm đã có 447 người tham gia nhập ngũ (trong đó có 170 liệt sỹ, 106 thương binh, 75 bệnh binh, 47 người bị nhiễm chất độc da cam); 1.020 người tham gia dân công hỏa tuyến, 44 người tham gia thanh niên xung phong, 300 người tham gia lực lượng dân quân tập trung. Ngoài ra, toàn xã huy động trên 20.000 ngày công làm giao thông, đào phá bom mìn và các công trình thuỷ lợi để phục vụ chiến đấu trên các mặt trận.
Cùng với việc chi viện sức người cho miền Nam, nhân dân Xuân Lâm đã chịu thương, chịu khó lao động sản xuất, tiết kiệm từng bữa ăn, từng mớ thóc, đóng góp đầy đủ các chỉ tiêu lương thực, thực phẩm của cấp trên giao với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Triển khai có hiệu quả hai phong trào do Huyện ủy phát động là “Thực hiện tiết kiệm lương thực” và phong trào “Hũ gạo tiết kiệm chống Mỹ cứu nước”, xã đã giao Hội phụ nữ làm nòng cốt, phân chỉ tiêu cho các chi hội xóm vận động mỗi chị em mỗi tháng một gia đình tiết kiệm từ 2 - 3kg gạo để ủng hộ kháng chiến. Sau mỗi tháng, Hội phụ nữ xóm thu và nộp cho Hội phụ nữ xã, kết quả trung bình mỗi tháng cả xã thu được 1.500 kg gạo để ủng hộ kháng chiến. Riêng giai đoạn 1961 - 1965 Xuân Lâm đã đóng góp làm nghĩa vụ cho Nhà nước đạt hơn 350 tấn lương thực, 55 tấn thực phẩm; trong năm 1966 nhân dân Xuân Lâm cùng các xã trong huyện đã giao nộp tăng hơn 780 tấn thóc so với năm 1965, thịt lợn tăng hơn 4,5%. Tổng cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Xuân Lâm đã đóng góp hơn 4.150 tấn lương thực, 515 tấn thực phẩm chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng gặc Mỹ.
2.4. Phát huy truyền thống văn hóa và cách mạng, nhân dân Xuân Lâm đã nhường cơm sẻ áo, dành nhà nuôi bộ đội, chăm sóc thương, bệnh binh, góp phần bảo vệ an toàn các căn cứ kháng chiến đóng trên địa bàn
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, các cơ quan trọng yếu của Bộ tư lệnh Quân khu, xưởng chế tạo vũ khí liên khu 4, Trường nghiệp vụ cơ yếu Quân khu, các đơn vị bộ đội phòng không, Bệnh viện quân y 42 của Quân khu 4; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An, nhà máy đường Sông lam tỉnh Nghệ An; cơ quan Huyện ủy, UBND huyện Nam Đàn, bộ phận bảo vệ các hiện vật của Khu di tích Kim Liên…. đã chuyển về Xuân Lâm làm nơi đứng chân. Hàng triệu lượt bộ đội, thương binh thường xuyên vào Nam ra Bắc qua bến đò Vạn Rú, bến đò Chợ Liễu đều lấy Xuân Lâm làm nơi trú quân. Do cơ sở vật chất thiếu thốn, nên đa số cán bộ, bộ đội, công nhân, thương binh, bệnh binh được nhân dân Xuân Lâm tiếp nhận, bố trí nhà ở, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, nước uống, đảm bảo công tác hậu cần. Xã đã vận động mỗi chi Hội phụ nữ thành lập 01 tổ phục vụ lo cơm nước giúp bộ đội, thành lập Hội mẹ chiến sỹ chăm sóc thương - bệnh binh. Đoàn thanh niên vừa tổ chức lực lượng đảm bảo giao thông, vừa thành lập các đội văn nghệ xung kích để tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ và động viên bộ đội. Với tinh thần tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã có hơn 1000 ngôi nhà của nhân dân được sử dụng để bộ đội ở và sinh hoạt thường xuyên, nhiều ngôi nhà nhân dân đã hiến toàn bộ để bộ đội làm trung tâm chỉ huy, kho tàng; hàng trăm tấn lương thực thực phẩm được nhân dân cung cấp để đảm bảo công tác hậu cần. Trong vườn nhà, các hộ dân đã đào hơn 1.500 hầm các loại và hơn 10km hào giao thông làm nơi trú ẩn cho nhân dân, cán bộ, bộ đội khi máy bay Mỹ ném bom. Tổ chức lực lượng, phối hợp với các đơn vị quân đội chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo vệ an toàn tuyệt đối các căn cứ kháng chiến đóng trên địa bàn. Với những cống hiến to lớn đó, 1.290 gia đình có công với cách mạng đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.
2.5. Những tổn thất, mất mát, đau thương là minh chứng lịch sử khẳng định Xuân Lâm là trọng điểm chịu sự đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Xuân Lâm luôn là địa bàn bị địch đánh phá ác liệt bằng các loại bom tấn, bom sát thương, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường… gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Sau mỗi trận bom, cả khu vực Nam Lâm và Nam Quang làng mạc điêu tàn, đau thương bao phủ, nhiều người dân bị chết, bị thương, nhà cửa đổ sập, gia súc bị chết, cây cối gãy đổ ngả nghiêng; hàng loạt bom bi và nhiều quả bom chưa phát nổ nằm rải rác khắp làng xóm và trên các cánh đồng.
 Trong các đợt ném bom của Mỹ, xã Xuân Lâm đã có gần 100 người dân bị chết, hơn 150 người bị thương, 110 ngôi nhà bị phá huỷ hoàn toàn và gần 125 con trâu bò bị chết. Trong đó trận bom làm thiệt hại nhiều nhất là vào lúc 07 giờ sáng ngày 8/4/1967 ở khu vực Nam Quang làm 35 người chết, riêng gia đình ông Xuân Giáo chết 4 người; tiếp đến, tháng 6 năm 1968 máy bay Mỹ đánh 6 trận vào làng Kim Chung làm chết 20 người, trong đó gia đình ông Nguyễn Thạc Đạo chết 2 người và 2 cán bộ nhà nước trên đường vào Nam tạm trú để qua đò Vạn Rú cũng bị hy sinh; tháng 6 năm 1968 ở làng Yên Tào bị đánh thêm 3 trận với loại bom sát thương làm chết 11 người cháy 18 nhà. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1968 đến 1972 Mỹ tiếp tục ném hàng chục đợt bom khoan, bom nổ chậm, bom từ trường, bom bi vào các khu vực dân cư dọc đường đê 42 gây hậu quả vô cùng khủng khiếp và làm chết nhiều người dân vô tội. Cho đến hôm nay, khi đất nước hân hoan trong khúc ca hòa bình, hạnh phúc, thì nỗi đau chiến tranh tại Xuân Lâm vẫn còn đó. Hàng năm, có những ngày cả xã trùng hàng chục đám giỗ, khói hương thoảng bay khắp vùng tưởng nhớ hương hồn những người dân vô tội, đồng thời nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau không bao giờ lãng quên tội ác quân thù đã gieo rắc trên mảnh đất quê hương.
Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975 đã kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời kết thúc quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chiến thắng này mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của con người và trí tuệ Việt Nam. Cùng với quân dân cả nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân Xuân Lâm đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước nồng nàn, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, cống hiến cao nhất sức người, sức của, tạo thành sức mạnh vô địch cùng với nhân dân cả nước đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược; đưa lịch sử dân tộc bước sang trang mới, cả nước đoàn kết xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập và phát triển.
3. Thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 – 2018)
3.1. Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai lũ lụt, thi đua lao động sản xuất phát triển kinh tế, tham gia bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 – 1985)
Kết thúc kháng chiến, đất nước độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hòa trong niềm vui chiến thắng của cả dân tộc, Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Lâm đã phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng quê hương. Đặc biệt, toàn xã đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi, tiến quân mạnh mẽ vào sản xuất nông nghiệp. Hợp tác xã đã tổ chức chiến dịch làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, nạo vét kênh mương, đào đắp bờ vùng, bờ thửa, nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh. Tập trung khai thác đất đai, đào đắp kênh mương để phục vụ tưới tiêu cho các loại cây trồng. Cùng với phát triển sản xuất, các hoạt động văn hóa - xã hội, xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế cũng được thực hiện, đạt nhiều kết quả.
Tháng 9 năm 1978, một trận lũ lụt lớn xảy ra, một số xóm ngoài đê như Tào Đông, Yên Tào, Kim Chung, Chung Mĩ và Đồng Vụng bị ngập sâu trong nước. Trận lụt đã gây ra thiệt hại lớn, lúa, màu hầu như mất trắng. Đây là một khó khăn và thách thức đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Xuân Lâm. Đảng bộ đã động viên nhân dân tập trung khắc phục hậu quả. Việc trước mắt là giúp nhân dân các xóm nằm ven sông Lam tu sửa lại nhà cửa, vệ sinh môi trường, ổn định đời sống. Với sự nỗ lực của toàn Đảng bộ và nhân dân, Xuân Lâm đã vượt qua khó khăn, giữ được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra về kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội, tuyển giao quân.
Cuối năm 1978 đầu năm 1979 tình hình biên giới phía Tây Nam và phía Bắc nước ta diễn biến phức tạp. Tháng 8 năm 1978, tập đoàn  Pol Pot – Ieng Sary đã  tấn công đánh biên giới nước ta ở Tây Nam. Tháng 2/1979, quân bành trướng Trung Quốc tấn công ta trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Nhiệm vụ của Đảng bộ và chính quyền xã lúc này là tổ chức tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, giúp nhân dân bình tĩnh và nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của chúng, hoàn thành các chỉ tiêu nhà nước đề ra. Hưởng ứng lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, lớp lớp thanh niên Xuân Lâm lại hăng hái tình nguyện lên đường nhập ngũ. Hàng năm, xã luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu tuyển và giao quân. Trong giai đoạn này, toàn xã có 250 thanh niên tham gia quân đội, trong đó có 36 đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Ngày 28/10/1982, cơn bão số 7 có sức gió giật trên cấp 12 đổ bộ gây thiệt hại nặng nề, ở Xuân Lâm có 150 nhà dân bị sập đổ hoàn toàn, sản phẩm vụ mùa hầu như mất trắng. Trước tình hình đó, xã đã phát động nhân dân ra sức khắc phục hậu quả do cơn bão gây ra, huy động mọi nguồn lực tu sửa các công trình dân sinh, trường học, trạm xá; tập trung khôi phục sản xuất, giải quyết vấn đề lương thực và đời sống. Với tinh thần tự lực, tự cường và sự giúp đỡ của các cấp, Xuân Lâm đã sớm vượt qua khó khăn để ổn định lại tình hình.
Thời kỳ đất nước khủng hoảng kinh tế, do hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên để lại, ảnh hưởng ngày càng trầm trọng từ lệnh cấm vận của Mỹ và các nước; sự lỗi thời của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, cùng với thời tiết diễn biến phức tạp, đời sống của nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng với tinh thần đoàn kết, cách mạng, nhân dân Xuân Lâm vẫn một lòng tin tưởng và đi theo Đảng, đồng cam cộng khổ, thi đua lao động sản xuất, vượt qua mọi gian nan, thử thách. Khi nhận thấy thiếu đất sản xuất, Đảng ủy, chính quyền xã đã vận động hàng trăm hộ dân thuộc làng Yên Tào, làng Xóm Vụng, làng Khoa Cử, làng Đông Hạ, làng Tiến Bộ, làng Xóm Đồng… di dân đến nơi ở mới trên địa bàn xã theo quy hoạch, vì vậy diện tích đất sản xuất tăng lên đáng kể, giúp nhân dân trong xã nhanh chóng ổn định cuộc sống. Đồng thời, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước di dân khai phá vùng kinh tế mới, Xuân Lâm đã vận động hàng trăm hộ gia đình tình nguyện đến các huyện miền Tây Nghệ An, các tỉnh Tây nguyên và nhiều tỉnh khác để phát triển kinh tế; góp phần cùng nhân dân cả nước vượt qua khủng hoảng, làm nền tảng quan trọng bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển.
3.2. Thi đua thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới (1986 – 2018)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986 đã mở ra nhiều thời cơ và vận hội mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cùng với tinh thần yêu nước, trí thông minh, sáng tạo, Xuân Lâm đã nhanh chóng chuyển mình vươn lên mạnh mẽ, giành được những thành quả to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Kinh tế hàng năm đều tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt mức 7 - 9%. Tổng thu nhập toàn xã hội trong những năm gần đây đạt hơn 130 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người là 28,5 triệu/người/năm. Đến năm 2018, tổng thu nhập toàn xã đạt 265 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 35,5 triệu/người/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành tiểu thủ công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Thực hiện tốt việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, xây dựng vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi phát triển đa dạng theo hướng sản xuất hàng hoá, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Nhân dân và cán bộ xã Xuân Lâm trong nhiều năm liền được UBND tỉnh tặng bằng khen và tặng cờ thi đua.
Văn hóa xã hội ngày càng phát triển, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập mầm non trẻ 5 tuổi; 3/3 trường học đạt chuẩn quốc gia. Công tác đào tạo nghề được quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt kết quả tích cực. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu, tỷ lệ gia đình văn hoá đạt 87 - 88%; tỷ lệ đơn vị, xóm văn hoá đạt trên 92%, cơ bản hoàn thành hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao theo chuẩn Quốc gia. Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế, làm tốt công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra, xã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình được quan tâm thực hiện đạt kết quả tốt. Các chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách an sinh xã hội được thực hiện đảm bảo đúng quy định. Hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn luôn được khơi dậy và đạt nhiều kết quả thiết thực. Công tác giảm nghèo đạt nhiều tiến bộ vượt bậc, đến cuối 2018 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 2,4%.
Quốc phòng, an ninh luôn được giữ vững. Hàng năm đều chỉ đạo thực hiện tốt nội dung về xây dựng cơ sở an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu. Tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại các âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Hoàn thành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự. Công tác tuyển giao quân hàng năm đạt và vượt chỉ tiêu, giai đoạn 1986 – 2018 Xuân Lâm có 480 thanh niên nhập ngũ. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Đấu tranh kiên quyết và hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; trên địa bàn không có trọng án, không có điểm nóng, không có các hoạt động chống phá Đảng và nhà nước. Bảo vệ an toàn các công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh. Chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn được đổi mới, củng cố và tăng cường. Thực hiện tốt các kế hoạch học tập, quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nắm bắt và xử lý kịp thời tình hình diễn biến tư tưởng trong Đảng bộ và trong nhân dân. Duy trì tốt chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng bộ. Đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân ngày càng cao. Triển khai thực hiện có kết quả Chỉ thị của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt công tác kiện toàn, củng cố chất lượng tổ chức Đảng. Thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, đúng quy trình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, luân chuyển, sử dụng cán bộ. Triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Trung ương về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thực hiện đúng chương trình, nội dung kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng và đảng viên. Triển khai có hiệu quả Quy chế công tác Dân vận của hệ thống chính trị, Quy chế tiếp xúc đối thoại với nhân dân. Nhiều năm liền Đảng bộ được công nhận trong sạch vững mạnh. Nội dung, phương thức hoạt động của HĐND xã từng bước được đổi mới, thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát, giải quyết các kiến nghị của cử tri. Vai trò quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân xã được nâng lên; thực hiện có hiệu quả một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội; công tác cải cách hành chính từng bước được cải tiến theo hướng tích cực và hiệu quả. MTTQ và các đoàn thể làm tốt công tác tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân, đoàn viên, hội viên chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức hội xã hội, hội xã hội - nghề nghiệp từng bước được được đổi mới và hoạt động hiệu quả, thiết thực.
Qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Xuân Lâm đã đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương. Kinh tế của xã đã thoát khỏi tình trạng trì trệ, kém phát triển, từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên gấp hàng chục, thậm chí là hàng trăm lần so với thời kỳ trước đổi mới. Uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ được củng cố vững chắc, nhân dân đồng thuận và tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước. Những thành quả đó là nền tảng, tiền đề quan trọng để Xuân Lâm tiếp tục phát triển đi lên trong những năm tới, theo kịp với xu thế phát triển chung của đất nước.
III. CÁC HÌNH THỨC ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG
1. Đối với tập thể
- 01 Huân chương Chiến công hạng Ba.
- 30 cờ thưởng cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân vì đã có thành tích tiêu biểu trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.
- 15 cờ thưởng danh hiệu đơn vị quyết thắng cho lực lượng Công an và Dân quân tự vệ.
- 01 Bằng công nhận xã Xuân Lâm đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2017.
- Nhiều Bằng khen, giấy khen của Đảng và Nhà nước thưởng cho cán bộ, nhân dân, MTTQ, các đoàn thể vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện các phong trào.
2. Đối với các cá nhân và gia đình
* Đối với cá nhân:
- Huân chương độc lập các loại: 45, trong đó:
+ Hạng Nhất: 08
+ Hạng Nhì: 12
+ Hạng Ba: 25
- Huân chương kháng chiến chống Pháp các loại: 19, trong đó:
+ Hạng Nhì: 05
+ Hạng Ba: 14
- Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước các loại: 1.228, trong đó:
+ Hạng Nhất: 272
+ Hạng Nhì: 389
+ Hạng Ba: 567
- Huân, Huy chương gia đình các loại: 1.290.

Để ghi nhận công lao to lớn mà cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang xã nhà đã đạt được, đồng thời tiếp tục giáo dục truyền thống anh hùng cách mạng cho các thế hệ mai sau; Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Xuân Lâm đề nghị Hội đồng Thi đua Khen thưởng các cấp và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Xuân Lâm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

TM.ỦY BAN NHÂN DÂN Xà     T/M.BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ
     Chủ tịch                        Bí thư
              
  Nguyễn Thạc Dương             Nguyễn Duy Thảo

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

50 năm Di chúc
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”
TỔ QUỐC TRÊN HẾT
Covid
Luong truy cap
Trung Thu
TRUNG THU
MỜI QUẢNG CÁO
LƯỢT TRUY CẬP TỪ 23-12-2016
  • Đang truy cập55
  • Máy chủ tìm kiếm7
  • Khách viếng thăm48
  • Hôm nay18,550
  • Tháng hiện tại415,315
  • Tổng lượt truy cập32,710,660
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây