Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979

Thứ ba - 14/02/2017 02:17
Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc bất ngờ dùng hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta.
Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979
Cuộc chiến tranh kéo dài đến năm 1988, để lại những thiệt hại to lớn và hậu quả lâu dài với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai đảng, hai nước. Hơn 13 năm sau, năm 1991 quan hệ ngoại giao Việt –Trung chính thức được bình thường hóa.

I. DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH

1.Tương quan lực lượng

1.1. Trung Quốc


Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên, tổng  cộng có 600.000 quân tham gia.

Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch. Chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động.  

Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào Đông Bắc Việt Nam với mục tiêu chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng.

Tướng Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với mục tiêu chủ yếu là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai).

Về phân chia lực lượng: hướng Lạng Sơn Trung Quốc sử dụng quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có Quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có Quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.

1.2. Về phía Việt Nam

Do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia, nên phòng thủ ở biên giới giáp Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của QK1 và QK2 cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ.

Lực lượng tinh nhuệ nhất của ta lúc đó đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều.

 Lực lượng bộ đội Việt Nam chống lại cuộc xâm lược biên giới lúc đó có khoảng 70.000 quân, sau đó được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.  

Ngày 27/2/1979, Quân đoàn 2  được lệnh cơ động từ phía Nam ra để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5/3/1979 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân. Lúc này, Quân đoàn 1 vẫn đóng quân quanh Hà Nội, sẵn sàng chờ lệnh nhận nhiệm vụ chiến đấu.

2. Tóm tắt diễn biến chiến sự biên giới phía Bắc

- Từ tháng 10/1978 cho đến ngày 15/2/1979, Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ lấn chiếm, trinh sát thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới.

- Đến cuối tháng 1/1979, 17 sư đoàn (khoảng 225.000 quân) chính quy Trung Quốc đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom tức 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới

- Trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1/1979 của Đặng Tiểu Bình, Hoa Kỳ tuyên bố đứng ngoài cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam.

- Ngày 15/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam.

- Để ngăn chặn Liên Xô tấn công từ phía Bắc, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung-Xô vào tình trạng báo động, đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300.000 dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô.

 - 5 giờ sáng chủ nhật, ngày 17/2/1979, Trung Quốc huy động 28 sư đoàn bộ binh; 2 sư đoàn, 39 trung đoàn pháo binh; 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng; 2 sư đoàn phòng không và nhiều trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh địa phương, biên phòng, dân binh; tổng số 600.000 quân cùng với 550 xe tăng 2.500 khẩu pháo, tấn công vào biên giới Việt Nam

Giai đoạn 1: (từ 17/02 đến 23/02)

- Mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh, quân Trung Quốc chia thành hai hướng, phía Đông và phía Tây bắt đầu tràn vào biên giới nước ta, từ Móng Cái, Quảng Ninh đến Phong Thổ, Lai Châu.

 - Sở Chỉ huy tiền phương hướng Đông, Trung Quốc đặt tại Nam Ninh, mục tiêu chính là Lạng Sơn, do tướng Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy, lực lượng gồm 18 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn xe tăng và các đơn vị binh chủng khác, đảm nhiệm tiến công các tỉnh biên giới Đông Bắc của Việt Nam. Cụ thể các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng:

- Sở Chỉ huy hướng Tây đặt ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam do tướng Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh chỉ huy; lực lượng có 10 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng và các đơn vị binh chủng khác, đảm nhiệm tiến công các tỉnh biên giới Tây Bắc của Việt Nam. Cụ thể là các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu.

- Do chiếm ưu thế về lực lượng, chủ động về thời gian, lại được một bộ phận người Việt gốc Hoa cài cắm từ trước ở Việt Nam hỗ trợ, vì vậy đợt tấn công đầu tiên, quân Trung Quốc đã luồn sâu vào nội địa Việt Nam, phá sập các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên.

- Hậu quả, quân Trung Quốc đã xâm nhập được vào 26 điểm, khu vực biên giới của Việt Nam.

- Đáng chú ý là, trước giờ nổ súng, một bộ phận người Việt gốc Hoa mà Trung Quốc cài cắm từ trước đã bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo của ta.

- Tất cả các hướng tấn công của Trung Quốc đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ, do đó gây thiệt hại nặng nề người và cơ sở vật chất cho Việt Nam, nhất là thị xã Lào Cai, thị trấn Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.

 - Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Bát Xát, Mường Khương, Lào Cai; ở thị trấn Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Lạng Sơn; ở Thông Nông- Cao Bằng  ta đã gây cho quân Trung Quốc những tổn thất nặng nề.

- Trong ngày 18 và 19/2/1979, quân và dân ta kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao, quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật tiến công.

- Ngay từ ngày 17/2 trận chiến tại Đồng Đăng diễn ra rất ác liệt. Để tấn công vào Đồng Đăng, Trung Quốc đã sử dụng 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và 6 trung đoàn pháo binh.  

Tại cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, Điểm cao 339, thị trấn Đồng Đăng do Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn giữ, quân Trung Quốc đã sử dụng một sư đoàn để bao vây, không làm gì được trước sự chiến đấu anh dũng của bộ đội ta, ngày 22/2/1979, Trung Quốc đã chở bộc phá đánh sập cửa chính của pháo đài, rồi dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa học chứa chất độc vào các lỗ thông hơi làm cho thương binh và nhân dân đang lánh nạn ở đây thiệt mạng.

- Tại Móng Cái, bộ đội ta đã giành giật từng góc phố, dãy nhà, hai ngày đầu, ta đã tiêu diệt 4.000 quân Trung Quốc.

- Ngày 21/2/1979, Trung Quốc điều thêm 2 sư đoàn, tăng cường sức tiến công trên các hướng, vì vậy đến ngày 22/2/1979, một số địa phương ở Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái và Hà Giang đã bị quân Trung Quốc chiếm giữ

- Lúc này, ta đã kịp thời điều động 5 sư đoàn, tương đương 30.000 quân, triển khai tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng và tăng cường sức phòng thủ tại các chốt, nên đã hạn chế và làm vô hiệu hóa được sức tấn công và gây cho quân Trung Quốc nhiều thiệt hại.

- Ngày 23/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ rút quân trong vòng 10 ngày tới. Mục đích là, ngăn chặn sự can thiệp quân sự từ phía Bắc của Liên Xô, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn.
Kết quả hình ảnh cho tóm tắt diễn biến Chiến tranh Biên giới 1979
Tù binh TQ bị bắtsống.

Giai đoạn 2: (từ 23/02 đến 05/03)

- Ngày 25/2/1979, tại khu vực Đồng Mỏ, Lạng Sơn, ta thành lập Quân đoàn 14, lực lượng bao gồm Sư đoàn 3, Sư đoàn 327, Sư đoàn 338,  Sư đoàn 337 và Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác tấn công chính diện quân xâm lược Trung Quốc.

-  Ngày 26/2/1979, Trung Quốc tăng thêm quân để đánh chiếm thị xã Lạng Sơn. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của quân và dân ta, đồng thời vận dụng chiến thuật lạc hậu, nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.

- Suốt ngày 27/2/1979, trên hướng Cao Lộc, Lạng Sơn, Sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ do trung đoàn 141 của ta chốt giữ.

- Ngoài ra, bộ đội đặc công của ta còn luồn sâu vào trong nội địa Trung Quốc, đánh vào hai thị trấn Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam), gây cho Trung Quốc nhiều thiệt hại.

- Ngày 2/3/1979, tại Khánh Khê, Lạng Sơn, Sư đoàn 337, Sư đoàn 3, Quân đoàn 14 đã kiên cường đánh trả các đợt tấn công của 3 sư đoàn bộ binh là 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo của Trung Quốc.

- Ở hướng đường 1A, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 vừa chặn đánh Sư đoàn 160 của Trung Quốc từ phía Bắc, vừa chống lại cánh quân vu hồi của Sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc thọc sang. Vì vậy, tuy đã sử dụng 5 sư đoàn bộ binh cho hướng tiến công này, nhưng đến sáng ngày 2/3/1979, quân Trung Quốc vẫn không chiếm được thị xã Lạng Sơn,

- Ngày 2/3/1979, Trung Quốc tăng cường thêm Sư đoàn 162 dự bị chiến dịch, tổng cộng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng vào Thị xã Lạng Sơn và đến chiều ngày 4/3/1979, Trung Quốc mới chiếm được thị xã Lạng Sơn.

- Lúc này, ta đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm. Cụ thể Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 tổ chức lực lượng bố trí quanh Thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, quân đoàn chủ lực của ta đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14 làm cho quân Trung Quốc rất hoang mang.

- Ở Mặt trận Lào Cai, lực lượng của TQ gồm 3 quân đoàn, là quân đoàn 11 và 13 (quân khu Côn Minh), Quân đoàn 14 (quân khu Thành Đô), tổng cộng 125.000 quân. Về phía ta chỉ có 6 trung đoàn thuộc Sư đoàn 316 và 345 với tổng số khoảng 20.000 quân. Sư đoàn 316 đã chiến đấu kiên cường với Quân đoàn 13 Trung Quốc; phải hai ngày sau Trung Quốc mới chiếm được Lào Cai

 - Còn Sư đoàn 345 của ta đã chiến đấu chống lại 2 quân đoàn 11 và 14 của Trung Quốc. Tuy vậy, sau 5 ngày giao tranh quân Trung Quốc chỉ tiến thêm được 2 cây số trong lãnh thổ VN. Cuộc chiến giữa Sư đoàn 316 và Quân đoàn 13 của Trung Quốc tiếp diễn cho đến ngày 5/3.

- Giai đoạn 3: (từ 05/03 đến 18/03)

- Ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân; ngày 7/3/1979, Việt Nam tuyên bố sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.

- Đến ngày 18 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam.

- Đáng chú ý là, trước khi rút quân, Trung Quốc đã thực hiện nhiều hành động như giết chóc, đốt phá hạ tầng cơ sở vật chất ở tất cả những nơi mà Trung Quốc đi qua. Hầu hết các thị xã, thị trấn mà Trung Quốc chiếm được đều bị phá hủy một cách có hệ thống.

- Tại huyện Hòa An, Cao Bằng, lính Trung Quốc đã dùng búa và dao giết chết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng, hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.

-Tại thị xã Cao Bằng, quân Trung Quốc dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ đến cầu.

- Tại Đồng Đăng, quân Trung Quốc lấy đi tất cả những gì có thể mang theo, từ xe đạp cho đến thanh ray tàu hỏa, những gì không mang được đều bị đập phá.

- Tại thị trấn Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới khoảng 10 km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân Trung Quốc còn cho đốt cả mỏ apatit Lào Cai.

II. HẬU QUẢ CHIẾN TRANH

1. Về phía Trung Quốc

- Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của ta đưa tin: tổng số thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Cụ thể:

- Tại mặt trận Lạng Sơn, có 19.000 lính Trung Quốc bị tiêu diệt, 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn bị phá hủy.

- Tại mặt trận Cao Bằng: có 18.000 lính Trung Quốc bị tiêu diệt, 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự bị phá hủy.

- Tại mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): có 11.500 lính Trung Quốc bị tiêu diệt, 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự bị phá hủy.

- Tại mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: có 14.000 lính bị tiêu diệt, 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự bị phá hủy.

- Sau khi Trung Quốc rút quân, tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

 - Về phía Trung Quốc, cuộc chiến tuy ngắn ngày nhưng đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải cách kinh tế của Trung Quốc.

2. Về phía Việt Nam

- Theo Trung Quốc thì số bộ đội và dân thường của Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000 người.

- Cuộc xâm lược Việt Nam của quân Trung Quốc đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; khoảng một nửa trong số 3,5 triệu nhân dân  khu vực biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống.

III. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC RÚT RA TỪ CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI THÁNG 2/1979

1. Nguyên nhân của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc

Thứ nhất, xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc nước lớn của Trung Quốc, họ luôn muốn Việt Nam suy yếu, làm đệm an toàn ở phía Nam Trung Quốc. Khi thấy bị ngăn cản, không thực hiện được mục đích, Trung Quốc bằng các âm mưu, thủ đoạn, kể cả đẩy dân tộc Campuchia vào họa diệt chủng, xâm lược Việt Nam để đạt được mục đích của mình.

Thứ hai, sự kiện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Khmer Đỏ (do Trung Quốc ủng hộ), Trung Quốc vu cáo Việt Nam “xâm lược Campu chia”, ngả về phía Liên Xô và thực hiện các mục tiêu chiến lược bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô khắp Đông Dương.

Thứ ba, lấy cớ Việt Nam xua đuổi người Hoa về nước, nhưng thực chất Trung Quốc đã sử dụng vấn đề Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình và đã kích động người Hoa về nước nhằm tạo cớ.

Trước năm 1975, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu Hoa Kiều sinh sống, trong đó 15% sống ở miền Bắc và 85% sống ở miền Nam; vì vậy, chỉ tính riêng năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến (2/1979) đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Vấn đề Hoa kiều là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia.

2. Bài học rút ra từ cuộc chiến tranh

Nhiều năm nay, Trung Quốc vẫn kỷ niệm sự kiện 17/2/1979 và gọi đó là “Cuộc chiến tự vệ phản kích” để xuyên tạc lịch sử và đầu độc ý thức của người dân Trung Quốc. Thực tế các trận chiến đều diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam, người dân biên giới đã phải chịu rất nhiều đau thương mất mát. Bản chất sự kiện 17/2/1979 là cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của quân Trung Quốc”. Từ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2/1979 giúp cho chúng ta nhiều bài học:

Thứ nhất, đoàn kết toàn dân, cả nước một lòng đánh giặc; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; mỗi một người dân là một chiến sĩ; mỗi bản làng, xí nghiệp, nông trường, hợp tác xã, thị xã, quận, huyện là một pháo đài kiên cường chống giặc. Mỗi tỉnh, thành là một đơn vị chiến lược (khu vực phòng thủ chiến lược), cả nước ta là một chiến trường rộng lớn có đủ sức mạnh tiêu diệt quân địch.

(Thực tế đã chứng minh, ngay từ những ngày đầu cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, trong cuộc đọ sức với dân quân tự vệ và bộ đội địa phương ta, quân đội chính quy của chúng đã bị giáng trả những đòn trừng phạt nặng nề. Mỗi một ngọn đồi ở biên cương là một Chi Lăng chồng chất xác thù. Mỗi một con suối, dòng sông là một Bạch Đằng nhuộm đỏ máu giặc).

Thứ hai, xây dựng Quân đội ta có những binh đoàn chủ lực hùng mạnh, có sức đột kích lớn, khả năng cơ động cao, sức chiến đấu mạnh, vũ khí phương tiện hiện đại, tính kỷ luật nghiêm thì dù kẻ địch đông như thế nào, hung hãn đến đâu và được trang bị như thế nào của bị đánh bại.

Thứ ba, phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, phối hợp chặt chẽ lực lượng chiến đấu tại chỗ của nhân dân và ba thứ quân để đánh giặc. Vừa chiến đấu vừa rèn luyện, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, nâng cao kỷ luật trong toàn quân, làm chủ mọi thứ binh khí kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình độ hiệp đồng tác chiến, tạo nên chất lượng chiến đấu cao, sức mạnh và hiệu lực chiến đấu thật lớn, làm tròn xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, đánh giá đúng địch, biết địch, biết ta, biết mạnh, biết yếu, biết vững, biết nguy, biết rõ kẻ thù, biết sâu về mình; lấy đó làm cơ sở để thực hiện chiến lược làm chủ đất nước để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giữ vững quyền làm chủ đất nước. Làm chủ chiến trường trong từng trận chiến đấu, trong từng hướng chiến dịch cũng như trong toàn bộ cuộc chiến tranh.

Thứ năm, luôn luôn chủ động, quán triệt tư tưởng tiến công, kiên quyết và linh hoạt, giỏi đánh địch bằng mọi hình thức, tiến công dũng mãnh, phản công kiên quyết, phòng ngự ngoan cường. Bất luận trong tình hình so sánh lực lượng như thế nào, điều kiện và phương tiên vũ khí như thế nào đều phải tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo, đánh địch trên thế mạnh, giành chủ động về ta, dồn địch vào thế bị động.

Thứ sáu, khai thác triệt để kinh nghiệm lịch sử về nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc; chủ động, toàn diện ngay trong công cuộc chuẩn bị từ thời bình, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của chiến tranh, nhất là chiến tranh công nghệ cao; tiếp tục sáng tạo, không ngừng phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam mới hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

* Nguồn tài liệu:Do Quân chủng Hải quân cung cấp.       
Theo http://www.haugiang.gov.vn/Portal/HtmlView.aspx?pageid=3026&ItemID=22535&mid=5180&pageindex=6&siteid=59

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 4.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây