Cái kim trong “bọc” VNEN đã lòi ra

Thứ hai - 30/10/2017 04:44
(GDVN) - Sau báo cáo này sẽ có những nghiên cứu về VNEN để tranh thủ khoản tài trợ 5 triệu USD cũng từ Quỹ Dubai Cares, đơn vị tài trợ cho báo cáo nói trên.
LTS: Nhà giáo Đạt Nguyễn gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết mới, trao đổi một số nội dung về những đánh giá xung quanh mô hình VNEN trên truyền thông thời gian qua.

Để rộng đường dư luận, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin giới thiệu bài viết này. Trân trọng cảm ơn thầy Đạt Nguyễn và mời quý bạn đọc theo dõi.

Vì bài viết khá dài, Tòa soạn chia làm 2 phần, sau đây là phần thứ nhất.


Tình cờ đọc được bài viết “Nghiên cứu tổng thể đầu tiên về VNEN” [1] của tác giả Thu Quỳnh trên Tạp chí Tia sáng ngày 18/10/2017, tôi nghiệm thấy quả đúng như dân gian thường nói:

“Cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra.”

Những ai quan tâm đến thời sự giáo dục đều thấy rõ:

Trước các ý kiến phản biện trên công luận cũng như sự phản đối của chính quyền và nhân dân ở một số địa phương về sự bất cập và kém hiệu quả của mô hình VNEN, các nhà nhập khẩu và chế biến mô hình này đã không ít lần biện minh bằng nhiều cách khác nhau.

Nhưng khổ nỗi là mỗi vị có một cách lí giải khác nhau, thậm chí rất mâu thuẫn với nhau.
Ảnh minh họa: chụp màn hình phóng sự của VTV.

Nào là do cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ giáo viên, nóng vội của địa phương,... cho đến do thiếu niềm tin. Nào là phương pháp VNEN không đòi hỏi đặc biệt gì về cơ sở vật chất, v.v…

Và gần đây, mượn “oai” của Ngân hàng Thế giới, họ đã trưng ra một báo cáo nghiên cứu đánh giá tác động VNEN dài 185 trang mang tên:

“Nâng cao chất lượng trường học tại Việt Nam thông qua học tập tích cực và hợp tác”.

Báo cáo này phải chăng là kết quả của hợp đồng (mà giá trị thù lao không được tiết lộ) giữa Ban quản lí Dự án VNEN với nhóm nghiên cứu?

Nhưng chắc chắn tiếp theo, sau báo cáo này sẽ có những nghiên cứu về VNEN để tranh thủ khoản tài trợ 5 triệu USD cũng từ Quỹ Dubai Cares, đơn vị tài trợ cho báo cáo nói trên. [2]

Tuy nhiên, báo cáo này hầu như không tạo được chút thay đổi tích cực nào trong niềm tin của nhiều giáo viên và cha mẹ học sinh đối với mô hình VNEN;

Trái lại, nó còn gây thêm nhiều sự hoài nghi về tích xác thực của các số liệu trong báo cáo.

Mọi người đều biết rõ đây không phải là báo cáo chính thức của Ngân hàng Thế giới và tổ chức này không có bất cứ sự bảo đảm nào về số liệu cũng như nội dung báo cáo.

Hơn nữa, cho đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chưa hề có văn bản chính thức nhìn nhận báo cáo này.

Bây giờ, phát biểu của Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong, trưởng nhóm nghiên cứu, đã gần như bộc lộ rõ bản chất của những bất cập trong việc triển khai mô hình VNEN trong thời gian qua.

Theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng:

"Thứ nhất, báo cáo chưa chỉ rõ là việc áp dụng mô hình VNEN có thể đem lại kết quả tốt nhất trong điều kiện nào và phương pháp này được triển khai như thế nào để khi giáo viên tổ chức thực hiện ở các cấp học, các địa phương với các đặc thù kinh tế xã hội khác nhau đều phát huy được thế mạnh của nó.

Ví dụ, hiện nay VNEN đang được áp dụng ở các lớp với điều kiện là học sinh phải đọc thông viết thạo.

Tuy nhiên, học sinh lớp ba ở miền núi có thể chưa đủ điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học của VNEN.

Vì vậy, báo cáo cũng chưa chỉ ra ở từng khu vực cụ thể như miền núi, khu vực học sinh dân tộc thiểu số thì áp dụng ở lớp mấy là phù hợp (từ lớp 3, lớp 4 hay lớp 5 hay thậm chí cấp trung học cơ sở?).

Cần có nghiên cứu chuyên sâu hơn để chỉ ra các điều kiện cần và đủ khi áp dụng mô hình VNEN.”

Không cần phải có tư duy khoa học hay quản lí gì cao lắm, người có lí trí bình thường cũng có thể đặt câu hỏi:

Tại sao sau khi đã triển khai vội vàng, ồ ạt với quy mô lớn trong liên tục hơn 4 năm học, các vị cổ suý cho VNEN lại mới thấy cần phải nghiên cứu về các điều kiện cần và đủ để áp dụng mô hình VNEN?

Việc này, lẽ ra đã phải thực hiện ngay từ lúc thí điểm đầu tiên trên quy mô nhỏ (48 trường tiểu học tại 6 tỉnh ở những vùng miền khác nhau trong năm học 2011-2012) rồi chứ?

Cách làm ngược như thế này thì thí điểm chẳng khác nào là “làm thí”, “làm đại” để có tiền dự án?

Thú thật, là người trong ngành và tham gia quá trình triển khai VNEN, tôi không hề nghe thấy hay đọc được bất cứ một thông tin hoặc văn bản nào về quá trình và kết quả thí điểm tại 6 tỉnh này.

Trong các hội nghị triển khai và tập huấn về VNEN, Vụ Giáo dục tiểu học chưa bao giờ có một công bố hay lưu ý nào về giai đoạn thí điểm này.

Có gì bí mật hay vì chẳng rút ra được điều gì để công bố về giai đoạn thí điểm ngắn ngủi ấy?

Tiết lộ này của Tiến sĩ Phùng Đức Tùng vô hình trung đã cho thấy tính chất phi khoa học của dự án VNEN;

Bởi học sinh vừa là mục tiêu tác động chính yếu, vừa là đối tượng thụ hưởng kết quả (nếu có) của dự án, đã không hề được xem xét, cân nhắc thận trọng trước khi triển khai.

Không trách chi công luận lâu nay vẫn thường ca thán về việc lấy học sinh làm “chuột bạch” trong các thí điểm của giáo dục.

Đừng quên rằng số lượng học sinh dân tộc trong dự án VNEN chiếm tỉ lệ khá lớn, vì trong 53 tỉnh, thành được chọn vào dự án có đến 20 tỉnh thuộc vùng núi, vùng khó khăn đặc biệt (nhóm ưu tiên 1).

Viết đến đây, tôi muốn bày tỏ lòng cảm kích trước sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm cao đối với con em mình của chính quyền và ngành giáo dục tỉnh Hà Giang.

Tình miền núi này đã dũng cảm dứt khoát chấm dứt việc thực hiện mô hình VNEN ngay sau khi dự án vừa kết thúc.

Chắc hẳn đó là vì tỉnh Hà Giang đã nhận thức rõ những gì thật sự cần thiết cho sự đổi mới giáo dục tại địa phương mình, chứ không phải từ những khẩu hiệu đao to búa lớn hay hình thức vẽ vời kiểu VNEN.

Về phương pháp, tôi tin rằng tất cả những ai đã học tập, nghiên cứu và thực sự áp dụng phương pháp/hình thức tổ chức học tập, hoạt động nhóm, đều hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp này cho học sinh ngay từ lớp 1.

Đây là một phương pháp đã và đang được giảng dạy từ khá lâu trong các trường sư phạm hiện nay.

Học theo nhóm không có nghĩa chỉ là hoàn toàn dùng ngôn ngữ để thảo luận, phát biểu;

Học sinh lớp 1 – kể cả học sinh dân tộc ít người, vẫn có thể làm việc theo nhóm một cách đầy phấn khích để cùng nhau phát hiện âm, vần, tiếng đã/đang học hay tạo ra tiếng/từ mới nếu giáo viên biết tổ chức và chuẩn bị cho các em thẻ âm, vần,…

Các cán bộ, giáo viên tiểu học tỉnh Bình Thuận, qua thực tiễn và kết quả hoạt động 10 năm của dự án Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Úc, hoàn toàn có thể xác thực điều này.  

Tuy nhiên, với phương pháp VNEN thì hoàn toàn khác biệt.

Không có lớp 1 nào trong mô hình này.

Thay vào đó, VNEN đã chia phần này cho Công nghệ giáo dục – một phương thức cũng đang gây nên nhiều nghi vấn về cả tính pháp lí và tính sư phạm.

Và có thể, với nhận định nêu trên của Tiến sĩ Tùng, không chừng VNEN sẽ tiếp tục loại bỏ các lớp có học sinh dân tộc thiểu số ra khỏi mô hình?!

Đây cũng là một minh chứng cho sự bất cập về phương pháp và tính thiếu hệ thống của mô hình VNEN.

Mời quý bạn đọc quan tâm đón đọc phần 2: Cháy nhà ra mặt “phương pháp VNEN”

Tài liệu tham khảo:

[1]http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Nghien-cuu-tong-the-dau-tien-ve-VNEN--10981

[2]http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/ngan-hang-the-gioi-cong-bo-nghien-cuu-danh-gia-tac-dong-cua-mo-hinh-vnen-397697.html

Đạt Nguyễn
Nguồn http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Cai-kim-trong-boc-VNEN-da-loi-ra-post180720.gd

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây